vanban.org

Bản án 41/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 11/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Nguyễn Xuân H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 22/3/2023. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm a,b khoản 1 Điều 46; khoản 2, khoản 3 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK SONG
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2023/HS-ST
Ngày 11-8-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG, TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Bá Tuyên và ông Phan Đình Thủy;

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Lâm Oanh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Ngọc Hà – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 37/2023/TLST-HS ngày 07 tháng 7 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2023/QĐXXST - HS ngày 28/7/2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Xuân H, sinh năm 1973, tại tỉnh Nam Định; nơi cư trú: T10, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hóa: 02/12; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân T, sinh năm 1950 và bà Triều Thị H, sinh năm 1949; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị L, sinh năm 1988 (Không đăng ký kết hôn, đã bỏ đi), có 01 con sinh năm 2008; tiền án: Không; tiền sự: 01 tiền sự. Ngày 05/12/2017, bị Công an huyện Đ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với số tiền 750.000 đồng theo Quyết định số 330/QĐ-XPHC ngày 05/12/2017 (Hiện nay đã nộp phạt);

Về nhân thân:

Ngày 20/02/2006, bị Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm xử phạt 04 tháng 27 ngày tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 250 Bộ luật hình sự năm 1999 (theo Bản án hình sự sơ thẩm số 04/HSST), chấp hành xong án hình phạt tù.

Ngày 07/7/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (theo Bản án hình sự sơ thẩm số 31/2020/HS-ST). Chấp hành án tại trại giam Đ thuộc Cục C10 Bộ Công an. Ngày 03/02/2021, chấp hành xong hình phạt tù.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/3/2023 đến nay; có mặt.

- Người làm chứng: Ông Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1990 – Vắng mặt.

Địa chỉ: T10, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 22/3/2023, Nguyễn Xuân H được người tên T (không rõ nhân thân, lai lịch) đến nhà rủ H đến khu vực nghĩa địa thuộc T10, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông cùng sử dụng trái phép chất ma túy thì H đồng ý. Sau đó T đi trước còn H điều khiển xe mô tô Wave, màu xanh, BKS 60P1- 90xx (xe thuộc sở hữu của chị Nguyễn Thị M, trú tại 52X, phường T, Tp. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai cho Nguyễn Xuân H mượn để sử dụng trước đó), đến khu vực nghĩa địa T10, xã T gặp T để cùng nhau sử dụng ma túy. Tại đây T lấy trong túi quần của mình 01 gói ma túy và lấy 01 phần trong gói ma túy đưa cho H, H nhận 01 phần ma túy từ T bỏ vào tờ giấy bạc rồi dùng bật lửa đốt ma túy để hít khói ma túy đưa vào cơ thể, cùng lúc này T cũng lấy 01 phần ma túy đổ vào ống kim tiêm, hòa tan cùng với nước cất đưa ma túy vào cơ thể của T. Khi sử dụng ma túy xong T đưa số ma túy còn lại chưa sử dụng, được gói trong 01 gói giấy màu vàng cam đưa cho H. Sau đó T đi ra ngoài đường Quốc lộ 14 đón xe đi đâu không rõ. H nhận gói ma túy cầm trong tay trái và điểu khiển xe đi về nhà. Khi đến đoạn đường Quốc lộ 14 phía trước cổng nghĩa địa thuộc T10,xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông thì bị Công an xã T phối hợp với Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ kiểm tra nên H vứt gói ma túy xuống mương nước (mương không có nước) cách vị trí H ngồi 50cm thì bị Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng gồm: 01 gói giấy màu vàng cam bên trong chứa chất rắn dạng cục màu trắng, 01 xe mô tô Wave Alpha màu xanh, BKS 60P1 – 90xx và 01 giấy đăng ký mô tô số 0103xx mang tên Nguyễn Thị M.

Tại bản kết luận giám định số 92/KL-KTHS ngày 27/3/2023 của Phòng Kỹ Thuật Hình sự Công an tỉnh Đ kết luận chất rắn màu trắng đựng trong 01 gói giấy màu vàng cam được niêm phong trong bì gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là: Diacetylmorphine được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất, có khối lượng mẫu là 0,1127 gam; Hoàn lại đối tượng giám định: Chất rắn màu trắng trong bì thư hoàn lại Cơ quan trưng cầu sau giám định có khối lượng mẫu là 0,1043 gam.

Tại bản Cáo trạng số 38/CTr-VKS ngày 07/7/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song đã truy tố bị cáo Nguyễn Xuân H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ Luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Xuân H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân H từ 01 (một ) năm 06 (sáu) tháng tù đến 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ ngày 22/3/2023.

Đối với đối tượng tên T (không rõ nhân thân, lai lịch) là người rủ H cùng sử dụng trái phép chất ma túy, đồng thời là người đưa ma túy cho H. Quá trình điều tra Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã tiến hành xác minh nhưng chưa có kết quả nên tách ra để tiếp tục xác minh, khi có căn cứ sẽ xử lý sau.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Xuân H, Công an huyện Đ đã ra Quyết định số 10/QĐ-XPHC ngày 19/6/2023 xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng.

Về vật chứng của vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ Điều 46, Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS,

- Tịch thu tiêu hủy: 0,1043gam heroin hoàn lại sau giám định là vật chứng của vụ án.

- Chấp nhân Cơ quan CSĐT trả lại 01 xe mô tô Wave anpha, màu xanh đen, BKS 60P1- 90xx và 01 giấy đăng ký mô tô số 0103xx cho chị Nguyễn Thị M là chủ sở hữu hợp pháp.

Bị cáo không bào chữa gì về hành vi phạm tội của mình mà chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án: Khoảng 14 giờ ngày 22/3/2023, Nguyễn Xuân H cùng đối tượng tên T (không rõ nhân thân, lại lịch) đến khu vực nghĩa địa T10,xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông để sử dụng ma túy. Sau khi sử dụng xong, H mang số ma túy còn lại cầm trong tay trái điều khiển xe máy để đi về nhà, khi đến đoạn đường Quốc lộ 14 phía trước cổng nghĩa địa T 10, xã T thì bị lực lượng Công an xã T và Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ kiểm tra và bắt quả tang cùng vật chứng gồm 01 gói giấy màu vàng cam bên trong chưa 0,1043 gam Heroin.

Như vậy, hành vi trên của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS quy định:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

a).........

...

c) Heroine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam...

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm các quy định về chế độ quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, là nguồn gốc của nhiều loại tội phạm khác. Tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng nó ảnh hưởng đến kinh tế, sức khỏe bản thân, các chức năng trong cơ thể, gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe con người và là nguồn gốc lây lan các căn bệnh nguy hiểm khác. Bị cáo tuy nhận thức được sự nguy hiểm của heroine nhưng bị cáo vì muốn có ma túy để sử dụng, qua cơn nghiện bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với khối lượng là 0,1127 gam, là Heroine. Vì vậy, hành vi của bị cáo cần xét xử nghiêm phù hợp với tính chất và mức độ phạm tội của bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ: Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có cha đẻ là ông Nguyễn Xuân T là thương binh loại B, tỷ lệ thương tật 4/4; có mẹ đẻ là Triều Thị H, được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, có 01 tiền sự về xử phạt vi phạm hành chính đến thời điểm phạm tội bị cáo chưa nộp phạt. Do đó, xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo, HĐXX xét thấy áp dụng hình phạt tù có thời hạn mới đủ tác dụng răn đe giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song về các tình tiết giảm nhẹ và hình phạt đối với bị cáo là phù hợp nên chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản gì nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Đối với đối tượng tên T không rõ nhân thân, lai lịch là người đã đến nhà rủ bị cáo H cùng sử dụng trái phép ma túy, đồng thời là người đưa ma túy cho bị cáo, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã điều tra xác minh, nhưng chưa có kết quả, nên tách ra, khi nào có kết quả sẽ xử lý sau là phù hơp nên chấp nhận.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của H, cơ quan Công an huyện Đ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, số tiền 1.500.000 đồng là phù hợp nên chấp nhận.

Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 46; khoản 2, khoản 3 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu tiêu hủy 0,1043 gam heroin hoàn lại sau giám định.

Chấp nhận cơ quan CSĐT trả lại 01 xe mô tô biển kiểm soát BKS 60P1-90xx và 01 giấy đăng ký mô tô số 0103xx cho chủ sở hữu hợp pháp chị Nguyễn Thị M.

. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí HSST theo quy định của pháp luật.

. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt Nguyễn Xuân H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 22/3/2023.

2. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm a,b khoản 1 Điều 46; khoản 2, khoản 3 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 0,1043 gam heroin hoàn lại sau giám định.

Chấp nhận cơ quan CSĐT trả lại 01 xe mô tô biển kiểm soát BKS 60P1-90xx và 01 giấy đăng ký mô tô số 0103xx cho chủ sở hữu hợp pháp chị Nguyễn Thị M.

(Đặc điểm vật chứng đã giao theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đ ngày 11/7/2023).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Nguyễn Xuân H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ