- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn V phạm tội "Chống người thi hành công vụ" - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 257 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn V phạm tội “Chống người thi hành công vụ".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R’LẤP TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2023/HS-ST Ngày 16-8-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R’LẤP, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: ông Vũ Văn Tuân.
- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Văn Chính – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk R’lấp, tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’lấp tham gia phiên tòa: ông Phan Xuân H1 - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk R’lấp, tỉnh Đắk Nông mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 41/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2023/QĐXXST-HS, ngày 10 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:
Trần Văn V, sinh năm 1989 tại tỉnh Hà Tĩnh; nơi đăng ký thường trú: Thôn Q, xã Th, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; chỗ ở trước khi phạm tội: Thôn 9, xã K, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: lái xe; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch Việt Nam; con ông Trần Văn H (đã chết) và bà Nguyễn Thị Th; vợ là Hà Thị Y và 02 con, con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 10/7/2023 sau đó chuyển sang tạm giam; đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Đắk R’lấp - có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Trần Công N; địa chỉ: Đội cảnh sát giao thông - Trật tự Công an huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – vắng mặt (có đơn đề nghị vắng mặt).
- Ông Tôn Đ Ngh; địa chỉ: Đội cảnh sát giao thông - Trật tự Công an huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – có mặt.
Người làm chứng:
- Anh Nguyễn Trọng B, sinh năm 1992; địa chỉ: Tổ dân phố X, thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – vắng mặt
- Anh Phan Ngọc H1, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn 4, thị trấn P, huyện N, tỉnh Kon Tum – vắng mặt.
- Anh Phạm Văn D, sinh năm 1998; địa chỉ: Thôn 13, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – vắng mặt.
NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Chiều ngày 10/7/2023, Trần Văn V cùng anh Phan Ngọc H1, anh Phạm Văn D, anh Hồ Phi Đ và 01 người bạn của Đ (chưa rõ nhân thân lai lịch) đến quán Ba Liêm tại tổ dân phố 5, thị trấn K, huyện Đ nhậu. Sau khi nhậu xong, đến khoảng 20 giờ cùng ngày Đ và bạn của Đ ra về, còn V điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Exciter, BKS: 48H1-109.96 của V, D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Exciter, BKS: 93L1-2772 của D chở H1 phía sau cùng chạy đến quán Bida 25 tại tổ dân phố 2, thị trấn K, huyện Đ đánh Bida. Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, V điều khiển xe mô tô của mình chạy trước, H1 điều khiển xe mô tô của D chở D cùng chạy lên ngã ba thị trấn Kiến Đ để ăn tối. V, H1, D tham gia giao thông không đội nón B hiểm và có dấu hiệu sử dụng rượu bia nên khi điều khiển xe mô tô chạy đến ngã ba thị trấn Kiến Đ (đoạn giao lộ giữa đường H và đường L, thuộc tổ dân phố 1 thị trấn K, huyện Đ) thì bị Tổ tuần tra Cảnh sát Giao thông – Trật tự (CSGT-TT) của Công an huyện Đ yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Tổ tuần tra gồm 5 đồng chí, do đồng chí Trần Công N, cấp bậc Thiếu tá, chức vụ Phó Đội trưởng – làm Tổ trưởng, đang thực hiện nhiệm vụ tuần tra kiểm soát giao thông theo Kế hoạch công tác số 940/KH-CAH (CSGT-TT) ngày 10/7/2023 của Công an huyện Đ về việc tuần tra kiểm soát, xử lý vi phạm theo chuyên đề "Người điều khiển xe trên đường mà trong cơ thể có chất ma túy, vi phạm nồng độ cồn". Quá trình kiểm tra, V và H1 không xuất trình được Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, Chứng nhận B hiểm trách nhiệm dân sự (TNDS) và Giấy phép lái xe theo quy định, do vậy Tổ tuần tra lập biên bản tạm giữ phương tiện. Lúc này, V gặp đồng chí Tôn Đức Ngh (thành viên Tổ tuần tra) xin đồng chí Ngh bỏ các lỗi vi phạm nhưng không được chấp nhận nên V liên tục chửi bới, lăng mạ lực lượng làm nhiệm vụ và cá nhân đồng chí Ngh nhằm ngăn cản không cho Tổ tuần tra tạm giữ phương tiên. Khi Tổ tuần tra đưa 02 xe mô tô vi phạm lên thùng xe ô tô đặc chủng (xe chuyên dụng) thì V leo lên thùng xe ô tô đặc chủng nằm, sau đó dùng tay đẩy xe mô tô của V xuống mặt đường nhưng bị Tổ tuần tra ngăn lại. Mặc dù, đã được anh H1, anh D (là những người đi cùng) can ngăn và được Tổ tuần tra giải thích đầy đủ các quy định của pháp luật nhưng V không chấm dứt hành vi vi phạm mà tiếp tục dùng tay xô đẩy đồng chí Trần Công N. Khi thấy đồng chí Tôn Đ Ngh ngồi trên xe mô tô đặc chủng BKS: 48A1- 000.50 chuẩn bị điều khiển chạy đi thì V chạy đến dùng hai tay ôm ngang cổ đồng chí Nghĩa quật xuống đất, làm đồng chí Ngh và xe mô tô ngã xuống mặt đường khiến đồng chí Ngh bị xây xát ở chân trái. Lúc này, Tổ công tác phối hợp với một số người dân có mặt tại hiện trường khống chế bắt giữ V rồi trình báo Công an huyện Đ xử lý. Kết quả kiểm tra nồng độ cồn và chất ma túy, xác định tại thời điểm kiểm tra Trần Văn V có nồng độ cồn 0,635 miligam/1 lít khí thở; anh Phan Ngọc H1 có nồng độ cồn 0,658 miligam/1 lít khí thở; anh Phạm Văn D có nồng độ cồn 0,402 miligam/1 lít khí thở và dương tính với ma túy Methamphetamine.
Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số: 41/QĐ-VKS, ngày 02/8/2023 của VKSND huyện Đắk R’lấp đã truy tố bị cáo Trần Văn V về tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố; sau khi phân tích các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn V từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng; về bồi thường thiệt hại: người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường nên không xem xét giải quyết; về xử lý vật chứng: Đối với video ghi nhận hành vi của bị cáo đã được niêm phong lưu theo hồ sơ vụ án nên không xem xét xử lý.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn, không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát và đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Đắk R’lấp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’lấp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Lời khai của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 10/7/2023, tại đoạn giao lộ đường Hồ Chí Minh và đường L, thuộc tổ dân phố 1 thị trấn K, huyện Đ, Trần Văn V điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Exciter, BKS: 48H1-109.96 tham gia giao thông không đội mũ B hiểm và có nồng độ cồn 0,635 miligam/lít khí thở thì bị Tổ tuần tra Cảnh sát Giao thông – Trật tự của Công an huyện Đắk R’lấp yêu cầu dừng phương tiện để kiểm tra vi phạm hành chính. Quá trình Tổ tuần tra thực hiện nhiệm vụ thì V có hành vi chống đối nhằm mục đích ngăn cản không cho Tổ tuần tra lập biên và tạm giữ phương tiện là xe mô tô của V, cụ thể: V chửi bới, lăng mạ lực lượng làm nhiệm vụ, xô đẩy đồng chí Trần Công N, leo lên thùng xe ô tô đặc chủng nằm, dùng tay đẩy xe mô tô vi phạm xuống mặt đường. Khi thấy đồng chí Tôn Đức Ngh (thành viên Tổ tuần tra) ngồi trên xe mô tô đặc chủng chuẩn bị điều khiển chạy đi thì V dùng hai tay ôm ngang cổ đồng chí Ngh vật xuống đất, làm đồng chí Ngh và xe mô tô ngã xuống mặt đường. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự.
“1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”
Hành vi của bị cáo xâm phạm đến việc thực hiện nhiệm vụ của những người đang thi hành công vụ là lực lượng cảnh sát giao thông; xâm phạm đến hoạt động của Nhà nước về quản lý hành chính trong lĩnh vực thi hành nhiệm vụ công; gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, đặc biệt là trong việc chấp hành pháp luật.
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo đồng thời ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bố bị cáo (ông Trần Văn H) là người có công với cách mạng, được nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng ba nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo là lao động chính trong gia đình, đang nuôi 02 con nhỏ (05 tuổi và 03 tuổi), đã bị tạm giam một thời gian đủ để bị cáo nhận thức về hành vi đã thực hiện; không có dấu hiệu bị cáo sẽ phạm tội mới, những người thi hành công vụ cũng đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Vì vậy, hình phạt áp dụng đối với bị cáo cần nghiêm nhưng cũng thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo để bị cáo tiếp tục cải tạo và có điều kiện chăm lo cho gia đình.
Cáo trạng truy tố đối với bị cáo về tội danh nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp nên chấp nhận.
. Về bồi thường thiệt hại: bị cáo có hành vi xâm phạm sức khỏe của những người thi hành công vụ nhưng không có ai yêu cầu bồi thường nên không xem xét.
. Về xử lý vật chứng: Đối với video ghi nhận hành vi của bị cáo đã được niêm phong lưu theo hồ sơ vụ án nên không xem xét xử lý.
. Về án phí: Bị cáo Trần Văn V bị kết án là có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn V phạm tội “Chống người thi hành công vụ".
Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn V 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm (06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Th, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về bồi thường thiệt hại: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không xem xét.
3. Xử lý vật chứng: Đối với video ghi nhận hành vi của bị cáo đã được niêm phong lưu theo hồ sơ vụ án nên không xem xét xử lý.
4. Án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trần Văn V phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án về phần bồi thường thiệt hại trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án về phần bồi thường thiệt hại trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận : - TAND tỉnh Đắk Nông; - VKSND tỉnh Đắk Nông; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông; - VKSND huyện Đắk R’lấp; - Cơ quan CSĐT CA huyện Đắk R’lấp; - Bộ phận hồ sơ CA huyện Đ; - Chi cục THA.DS huyện Đ; - UBND xã nơi bị cáo cư trú (để biết); - Bị cáo; - Đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký tên và đóng dấu) Vũ Văn Tuân |