vanban.org

Bản án 41/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 15/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Tô Hoàng N phạm tội “Tàng trữ trái phép ch t ma túy”.

Xử phạt bị cáo Tô Hoàng N 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn ch p hành hình phạt tù tính từ ngày 21 tháng 02 năm 2023. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tô Hoàng N phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Tô Hoàng N phạm tội “Tàng trữ trái phép ch t ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẾN CẦU
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2023/HS-ST
Ngày: 15/6/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hảo Phát.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Thị Sinh Phương;

Ông Nguyễn Hồng Phúc.

- Thư ký phiên toà: Ông Đỗ Cao Cường – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: ông Ngô Minh Đức – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 6 năm 2023 tại trường Trung học cơ sở Long Chữ, xã Long Chữ, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 37/HS-ST ngày 26 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2023/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Tô Hoàng N, sinh năm 1987; tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: p L, xã L, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học v n: 8/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Cao Đài; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Tô Văn H và bà Huỳnh Thị B; vợ: Trần Kim H (đã ly hôn); Lê Thị T (đã ly hôn), con: có 02 con lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: không có.

Nhân thân: ngày 25/9/2010, Công an xã L, thị xã Hòa Thành xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi “Đánh nhau”; Ngày 24/3/2020, Công an xã L, thị xã Hòa Thành xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”; Ngày 29/10/2020, Công an xã L, thị xã Hòa Thành xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép ch t ma túy” đã nộp phạt xong ngày 06/11/2020; Ngày 08/02/2022, Công an xã L, thị xã Hòa Thành xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, đã nộp phạt xong ngày 15/02/2022.

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 21/02/2023, tạm giam từ ngày 02/3/2023 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bến Cầu. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ 00 phút ngày 21/02/2023, tại nhà nghỉ Long Chữ thuộc p L, xã L, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh, Công an huyện Bến Cầu phối hợp cùng Công an xã Long Chữ bắt quả tang Tô Hoàng N đang c t d u 01 bịch nylon trong suốt, hàn kín bên trong chứa ch t tinh thể rắn màu trắng, nghi là ch t ma túy nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ người và vật chứng để làm rõ.

Kết luận giám định số 276/KL-KTHS, ngày 26/02/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh kết luận: Mẫu ch t tinh thể rắn màu trắng bên trong 01 bịch nylon trong suốt, hàn kín (ký hiệu M) gửi đến giám định là ch t ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng 0,3298 gam. Mẫu vật còn lại sau giám định là 0,2038 gam.

Qua điều tra, N khai nhận: do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 14 giờ 30 phút ngày 21/02/2023, Tô Hoàng N đi xe ôm từ nhà đến khu vực p L, xã Long Chữ, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh gặp người phụ nữ tên T hỏi mua 200.000 đồng ch t ma túy. Sau khi mua ma túy xong, N c t d u bịch ma túy trên người và đi bộ đến nhà nghỉ Long Chữ thuộc p L, xã L, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh thuê phòng số 14 để sử dụng ma túy. Đến 15 giờ cùng ngày bị Công an kiểm tra, bắt quả tang.

Ngày 21/02/2023, kiểm tra nồng độ ch t ma túy đối với Tô Hoàng N kết quả dương tính với ch t ma túy Methamphetamine.

Tại bản cáo trạng số: 39/CT-VKSBC ngày 26 tháng 4 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu đã truy tố Tô Hoàng N về tội: “Tàng trữ trái phép ch t ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, Tô Hoàng N đã khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Tô Hoàng N phạm tội “Tàng trữ trái phép ch t ma túy”, đề nghị căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Tô Hoàng N từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự xử lý vật chứng trong vụ án theo quy định pháp luật.

Bị cáo N thống nh t với luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận, bào chữa.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã ăn năn hối cải, thừa nhận hành vi phạm tội, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm trở về đoàn tụ với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bến Cầu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh và áp dụng điều luật: Vào khoảng 15 giờ 00 phút ngày 21/02/2023, tại nhà nghỉ Long Chữ thuộc p L, xã L, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh, Tô Hoang N c t gi u 0,3298 gam ch t ma túy loại Methamphetamine mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang. Do đó hành vi của Tô Hoàng N đã đủ yếu tố c u thành tội “Tàng trữ trái phép ch t ma túy”. Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu truy tố bị cáo về tội tàng trữ trái phép ch t ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tính ch t vụ án: Vụ án mang tính ch t nghiêm trọng, bị cáo N là người đã thành niên, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ việc tàng trữ ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì để thỏa mãn nhu cầu cá nhân bị cáo cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về các ch t ma tuý, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội. Việc tàng trữ và sử dụng ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho bản thân, gia đình và xã hội là một trong những nguyên nhân gia tăng các tệ nạn xã hội và tội phạm, nên cần phải xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

Khi quyết định hình phạt, có xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

+ Tình tiết tăng nặng: không có.

+ Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về nhận thân: Bị cáo có nhân thân x u.

Áp dụng hình phạt: Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo N là có căn cứ. Bởi lẽ, bị cáo là người nghiện ma túy, phạm tội nghiêm trọng do vậy cần áp dụng hình phạt tù để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân biết ch p hành pháp luật.

Hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có tài sản nên miễn hình phạt bổ sung.

Đối với người bán ma túy cho bị cáo, do không rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bến Cầu chưa làm việc được, khi nào làm rõ xử lý sau.

Hành vi sử dụng trái phép ch t ma túy của Tô Hoàng N, Công an huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh đã xử phạt hành chính theo quy định.

Về xử lý vật chứng: 01 (một) gói niêm phong vụ số 276/KL-KTHS; 01 (một) vỏ bao thuốc lá hiệu Jet và 01 (một) ống thủy tinh là ma tuý và dụng cụ sử dụng ma túy nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: bị cáo Tô Hoàng N phạm tội “Tàng trữ trái phép ch t ma túy”.

Xử phạt bị cáo Tô Hoàng N 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn ch p hành hình phạt tù tính từ ngày 21 tháng 02 năm 2023. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

2. Vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong vụ số 276/KL-KTHS; 01 (một) vỏ bao thuốc lá hiệu Jet và 01 (một) ống thủy tinh.

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 16 tháng 5 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, bị cáo Tô Hoàng N phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn) đồng.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo trình tự thủ tục phúc thẩm lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp Bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ