- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tuyên bố bị cáo Đỗ Mạnh Cường phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung m…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đỗ Mạnh C phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2023/HS -PT Ngày 22 tháng 5 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: ông Vũ Văn M
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Huy C;
Bà Lê Thị Bích N.
- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Ngọc L - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh VP.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh VP tham gia phiên toà: Bà Mầu Mai Q - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh VP xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 48/2023/TLPT-HS ngày 21 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo Đỗ Mạnh C, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 24/2023/HS-ST ngày 10 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện BX.
Bị cáo có kháng cáo:
Đỗ Mạnh C, sinh ngày 07/11/1996 tại VP; nơi cư trú: Thôn S, xã KL, huyện TD, tỉnh VP; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Xuân L và bà Hoàng Thị N; có vợ; Hoàng Thị H (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2018/HS-ST ngày 28/02/2018 của TAND huyện TD, tỉnh VP xử phạt Đỗ Mạnh C 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/02/2019 (đã được xóa án tích); ngày 01/4/2013, Công an huyện T, tỉnh VP ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 31, xử phạt hành chính số tiền 375.000 đồng đối với C về hành vi đánh nhau gây rối trật tự công cộng; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 24/11/2022 cho đến nay, có mặt.
Bị hại: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1996; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu 2, xã NL, huyện YL, tỉnh PT; tạm trú tại: TDP Đ, thị trấn BH, huyện BX, tỉnh VP, vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Đỗ Thị L1, sinh năm 1985; trú tại: Thôn T, xã HS, huyện BX, tỉnh VP, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đỗ Mạnh C và chị Nguyễn Thị L, đều là công nhân Công ty TNHH Compal Việt Nam ở khu CNBTI, huyện BX và làm việc cùng xưởng AA8 của bộ phận SMT của công ty. C biết chị L có 01 chiếc xe mô tô Honda Lead, BKS: 19H1 - 215.45, do không có tiền tiêu sài nên C nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe mô tô của chị L để đem bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 20/5/2022, chị L và C được nghỉ giải lao, chị L đi lên khu vực tủ để đồ cá nhân ở tầng 3 để nghỉ ngơi. Để lấy được xe mô tô của chị L, C nói với chị L “chiều có dùng đến xe không, cho tao mượn buổi chiều”, chị L đáp “không”, C nói dối tiếp “anh trai tao bị tai nạn trên VY, cho tao mượn xe đến 05 giờ chiều tao trả”. Chị L tin lời C nói là thật nên đồng ý và giao chìa khóa xe cho C, đồng thời bảo với C là trong cốp xe có Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô trên. Sau đó, chị L vào xưởng tiếp tục làm việc còn C ra lán lấy xe của chị L và điều khiển xe mô tô của chị L ra khỏi công ty. Sau đó, C đem xe lên VY và sử dụng điện thoại nhãn hiệu Nokia gọi điện cho anh Phạm Xuân Đức V là chủ cửa hàng mua bán xe máy cũ V Thu ở TQ, TĐ, VP, C nói dối với anh V “em có chiếc xe giấy tờ chính chủ, vợ em nó mua lại ở PT, giờ em đang cần tiền nên muốn bán”, anh V nói “cứ mang xe đến đây xem nào”. C điều khiển xe mô tô của chị L đến gặp anh V. V kiểm tra xe, hỏi giấy tờ xe thì C lấy Giấy đăng ký xe trong cốp xe đưa anh V xem. Anh V tin tưởng lời C nói là thật nên cả 2 thỏa thuận thống nhất mua bán xe với giá 25.000.000 đồng. Toàn bộ số tiền 25.000.000 đồng, C sử dụng vào việc tiêu sài cá nhân hết. Đến khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày, chị L không thấy C trả xe mô tô nên đã gọi điện cho C yêu cầu C trả xe, tuy nhiên C trốn tránh không trả. Đến ngày 30/5/2022, chị L đã làm đơn trình báo đến Công an huyện BX.
Ngày 04/6/2022, anh Phạm Xuân Đức V đã tự nguyện giao nộp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead BKS: 19H1- 215.45 cùng giấy đăng ký xe mô tô BKS: 19H1- 215.45 mang tên Phạm Thị Đ cho CSĐT - Công an huyện BX để phục vụ công tác điều tra
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia C dùng để liên hệ với anh V trao đổi mua bán xe mô tô của chị L, C đã làm mất trên đường bỏ trốn nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.
Tại Kết luận định giá tài sản số 66/KL-HĐĐGTS ngày 08/6/2022, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện BX kết luận: Giá trị của chiếc xe mô tô Honda Lead BKS: 19H1- 215.45 trị giá: 24.667.000 đồng.
* Về dân sự, xử lý vật chứng:
Đối với 01 chiếc xe mô tô Honda Lead BKS: 19H1- 215.45, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu hợp pháp là chị Nguyễn Thị L. Ngày 20/6/2022, CQĐT - Công an huyện BX đã trả lại xe cho chị L, sau khi nhận lại tài sản, chị L không có yêu cầu, đề nghị gì.
Đối với số tiền 25.000.000 đồng, ngày 20/5/2022 anh Phạm Xuân Đức V mua xe mô tô của Đỗ Mạnh C, Anh V yêu cầu C phải trả lại số tiền trên. Quá trình điều tra, C đã tác động gia đình bồi thường khắc phục cho anh V. Ngày 06/12/2022, chị Đỗ Thị L1 (là chị gái C) đã đứng ra trả cho anh V số tiền 25.000.000 đồng thay cho C (có một phần tiền của C, một phần tiền của chị L1), sau khi nhận đủ tiền anh V không có yêu cầu đề nghị gì thêm. Chị L1 cũng không yêu cầu C phải trả lại số tiền trên nên không đặt ra giải quyết.
Đối với anh Phạm Xuân Đức V là người mua xe mô tô Honda Lead BKS: 19H1- 215.45 do Đỗ Mạnh C chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị L. Quá trình điều tra xác định anh V không biết chiếc xe mô tô trên do C phạm tội mà có nên CQĐT không đề cập xử lý đối với anh V.
Với nội dung trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 24/2023/HS-ST ngày 10 tháng 3 năm 2023, Tòa án nhân dân huyện BX đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Đỗ Mạnh C phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 174; điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Đỗ Mạnh C 02 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 24/11/2022.
Ngoài ra quyết định còn tuyên án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 20 tháng 3 năm 2023, bị cáo Đỗ Mạnh C có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh VP đã phát biểu về đơn kháng cáo của bị cáo Đỗ Mạnh C. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự và tuyên phạt bị cáo 02 năm tù là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ mới theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; gia đình bị cáo hoàn cảnh khó khăn: bị cáo nuôi con nhỏ, bị cáo khai bố bị cáo bị bệnh tai biến, mẹ đã mất nên cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, giảm hình phạt cho bị cáo 02 tháng tù.
Bị cáo không tranh luận gì, xin giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Đơn kháng cáo của bị cáo Đỗ Mạnh C làm trong hạn luật định, hợp lệ được xem xét giải quyết.
Về tố tụng: Cấp sơ thẩm trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự, các tài liệu chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo trong vụ án đã đầy đủ, có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa bị cáo Đỗ Mạnh C đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; người bị hại, người liên quan và các tài liệu, chứng cứ được Cơ quan điều tra thu thập trong hồ sơ vụ án; đã có đủ cơ sở kết luận:
Do có ý định chiếm đoạt tài sản để bán lấy tiền tiêu sài cá nhân nên khoảng 11 giờ 00 phút, ngày 20/5/2022, tại công ty TNHH Compal Việt Nam ở KCN BT I, huyện BX, tỉnh VP, Đỗ Mạnh C đã có hành vi gian dối là hỏi mượn 01 xe mô tô Honda Lead BKS: 19H1 – 215.45 của chị Nguyễn Thị L rồi đem bán cho anh Phạm Xuân Đức V được 25.000.000 đồng để sử dụng tiêu sài cá nhân hết. Giá trị tài sản C chiếm đoạt được định giá xác định là 24.667.000 đồng.
Với hành vi nêu trên, Tòa án nhân dân huyện BX đã xét xử bị cáo Đỗ Mạnh C về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.
Xem xét nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự xã hội. Bản thân bị cáo có nhân thân xấu: năm 2013, đánh nhau bị Công an huyện TĐ xử phạt vi phạm hành chính; năm 2018 bị Tòa án nhân dân huyện TD xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, năm 2019 ra tù (đã được xóa án tích) nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho mình nay lại tiếp tục phạm tội. Do vậy, cần xử lý bị cáo nghiêm minh nhằm mục đích răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá tính chất của vụ án, nhân thân, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra; cho rằng bị cáo không thành khẩn nên không áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; bị cáo cùng gia đình đã bồi thường cho anh V nên đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 để làm căn cứ xử phạt bị cáo C 02 năm tù là có căn cứ pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã thực sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo và chị L1 (chị gái bị cáo) trình bày về gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn như: bố bị cáo bị bệnh tai biến, mẹ đã chết, bị cáo đã ly hôn vợ và phải nuôi con nhỏ. Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để từ đó chấp nhận kháng cáo của bị cáo C, giảm một phần hình phạt của bản án sơ thẩm cho bị cáo là phù hợp.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh VP đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm hình phạt đối với bị cáo là phù hợp, được chấp nhận.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Đỗ Mạnh C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Mạnh C, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 24/2023/HS-ST ngày 10/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện BX.
Tuyên bố bị cáo Đỗ Mạnh C phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Đỗ Mạnh C 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giam 24/11/2022.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Đỗ Mạnh C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh VP; - Sở tư pháp tỉnh VP; - Tòa án nhân dân huyện BX - Viện kiểm sát nhân dân huyện BX - Công an huyện BX; - Chi cục THADS huyện BX; - Phòng hồ sơ Công an tỉnh VP; - Bị cáo; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (đã ký) Vũ Văn M |