- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Ý D.
- Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình và Nghị; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2023/HNGĐ-ST Ngày 18-7-2023 V/v Tranh chấp về hôn nhân và gia đình - ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Bùi Văn Dũng.
2. Bà Bùi Thị Hoàng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vũ Hải là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Ngày 18 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 84/2023/TLST-HNGĐ, ngày 08 tháng 5 năm 2023 về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình
- Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 203/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 13 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 153/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 29/6/2023, giữa các đương sự.
Nguyên đơn: Lê Ý D, sinh năm 1985.
Địa chỉ: Số 01, đường T, tổ 17, khóm 2, Phường A, thành phố L, tỉnh Đồng Tháp.
Bị đơn: Nguyễn Văn K, sinh năm 1994.
Địa chỉ: Số A, đường L, khóm H, Phường C, thành phố L, tỉnh Đồng Tháp.
(Chị D có mặt, anh K vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn là chị Lê Ý D trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị D và anh K kết hôn có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường 1, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 42, ngày 12/7/2019.
Thời gian vợ chồng sống chung không hạnh phúc, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm. Chị D bỏ về nhà cha mẹ ruột sinh sống và vợ chồng ly thân sống xa nhau từ tháng 02 năm 2022 cho đến nay. Trong khoảng thời gian ly thân sống xa nhau vợ, chồng có tìm cách hàn gắn tình cảm nhưng không thành, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.
Nay chị D yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn K.
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn là Nguyễn Văn K: Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không rõ lý do và không nộp văn bản ý kiến cho Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng nguyên đơn là chị Lê Ý D yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn K nên xác định đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình - ly hôn theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn là Nguyễn Văn K, sinh năm 1994 có địa chỉ cư trú tại số A, đường L, khóm H, Phường C, thành phố L, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyển giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Bị đơn là Nguyễn Văn K được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do và không gửi, nộp văn bản ý kiến cho Tòa án. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là Nguyễn Văn K theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị D và anh K tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường 1, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 42, ngày 12/7/2019 là hôn nhân hợp pháp.
Theo khoản 1 Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình, quy định như sau:
“Điều 19. Tình nghĩa vợ chồng
1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.”
Tại phiên tòa, chị D trình bày thời gian vợ chồng sống chung không hạnh phúc, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm. Chị D bỏ về nhà cha mẹ ruột sinh sống và vợ chồng ly thân sống xa nhau từ tháng 02 năm 2022 cho đến nay. Trong khoảng thời gian ly thân sống xa nhau vợ, chồng có tìm cách hàn gắn tình cảm nhưng không thành, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Tại phiên tòa, chị D vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn K.
Bị đơn là Nguyễn Văn K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không rõ lý do và không nộp văn bản ý kiến cho Tòa án.
Xét thấy, Thời gian vợ chồng sống chung không hạnh phúc, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm. Chị D bỏ về nhà cha mẹ ruột sinh sống và vợ chồng ly thân sống xa nhau từ tháng 02 năm 2022 cho đến nay; trong khoảng thời gian ly thân sống xa nhau vợ, chồng có tìm cách hàn gắn tình cảm nhưng không thành, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc và Tòa án đã triệu tập anh K nhiều lần để tiến hành hòa giải, tham gia phiên tòa để vợ chồng đoàn tụ nhưng anh K vẫn vắng mặt, vợ, chồng vẫn tiếp tục sống ly thân, bỏ mặc nhau và chị D kiên quyết yêu cầu ly hôn với anh K. Xét, hôn nhân giữa chị D và anh K đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được, mục đích của hôn nhân không đạt được.
Căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, chị D yêu cầu được ly hôn với anh K là có căn cứ nên chấp nhận.
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung: Không yêu cầu nên không xem xét.
Về nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lê Ý D phải chịu án phí về hôn nhân theo khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Anh Nguyễn Văn K không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 19, 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Ý D.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Ý D được ly hôn với anh Nguyễn Văn K.
2. Về con chung: Không có.
3. Về tài sản chung: Không xem xét.
4. Về nợ chung: Không xem xét.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lê Ý D phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012188, ngày 08/5/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh, chị D đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.
Anh Nguyễn Văn K không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND TPCL; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Thanh Hiền |