vanban.org

Bản án 41/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Đậu Thị Đ được ly hôn với anh Mai Đình L.

Về con chung: Giao 01 con chung là cháu Mai Phúc K, sinh ngày: 22/6/2015 cho chị Đậu Thị Đ trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị Đ tạm thời không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con nên tạm thời không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Đậu Thị Đ được ly hôn với anh Mai Đình L.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUÂN LỘC
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 07/4/2023
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trang

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lữ Quốc Toàn

2. Bà Trần Thị Kim Tân

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Châu Loan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Dung - Kiểm sát viên

Ngày 07 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 16/2023/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 01 năm 2023 về việc “ Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự và Quyết định hoãn phiên tòa số: 87/2023/QĐST-HNGĐ ngày 23/3/2023 giữa:

- Nguyên đơn: Chị Đậu Thị Đ, Sinh năm 1988, vắng mặt.

Địa chỉ: Khu phố T, phường TX, Tp. ĐX, tỉnh Bình Phước.

- Bị đơn: Anh Mai Đình L, Sinh năm 1985, vắng mặt.

Địa chỉ: tổ 3, ấp Y, xã X, huyện XL, Đồng Nai

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 30/11/2022 bản tự khai, biên bản lấy lời khai, nguyên đơn chị Đậu Thị Đ trình bày:

Trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu chị Đậu Thị Đ và anh Mai Đình L chung sống và có đăng ký kết hôn vào năm 2013 tại xã XB, huyện XL, tỉnh Đồng Nai. Đây là kết hôn lần đầu của anh chị. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm, vợ chồng không có tiếng nói chung, hôn nhân không hạnh phúc, chị và anh L không còn chung sống với nhau từ năm 2018 đến nay. Nay chị Đ không còn tình cảm với anh L nên yêu cầu ly hôn với anh L.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Mai Phúc K, sinh ngày: 22/6/2015. Khi ly hôn chị Đ yêu cầu được nuôi cháu Khang và không yêu cầu anh Khang phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: chị Đ khai không có

Về nợ chung: chị Đ khai không có

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Mai Đình L trình bày: anh thống nhất với lời trình bày của chị Đ về quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung. Về mâu thuẫn vợ chồng, theo anh do chị Đ có người đàn ông khác, anh cũng khuyên chị Đ nhiều lần nhưng vẫn chứng nào tật ấy, chị Đ bỏ nhà đi Bình Phước sinh sống, hai vợ chồng không còn chung sống với nhau từ năm 2018 đến nay, nay chị Đ yêu cầu ly hôn thì anh đồng ý.

Về con chung: anh thống nhất với lời khai của chị Đ, vợ chồng có 01 con chung là Mai Phúc K, sinh ngày: 22/6/2015, hiện con chung đang do chị Đ nuôi dưỡng, khi ly hôn anh L yêu cầu nuôi cháu Khang và không yêu cầu chị Đ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: anh L khai không có

Về nợ chung: anh L khai không có

Ý kiến của kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.

- Về nội dung vụ án: Chị Đ yêu cầu ly hôn với anh L, anh L đồng ý ly hôn. Xét thấy, anh chị đã không còn chung sống với nhau từ năm 2018, anh chị đều đồng ý ly hôn nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Đ được ly hôn với anh L là phù hợp theo Điều 56 Luật hôn nhân gia đình.

Về con chung: anh L và chị Đ đều có nguyện vọng nuôi con, xét thấy, hiện nay cháu Khang đang do chị Đ nuôi dưỡng, mặt khác cháu Khang có nguyện vọng sống với chị Đ nên đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Khang cho chị Đ nuôi là phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân gia đình. Do chị Đ không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con nên tạm thời không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: anh chị khai không có nên không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: chị Đậu Thị Đ có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Đ là phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Anh Mai Đình L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng anh L vẫn vắng mặt không có lý do, nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh L theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: chị Đậu Thị Đ khởi kiện xin ly hôn với anh Mai Đình L, nên xác định quan hệ pháp luật: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai theo khoản 1 Điều 28, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đậu Thị Đ và anh Mai Đình L đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã XB, huyện XL, tỉnh Đồng Nai nên được xác định là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu của anh chị thì thấy, chị Đ yêu cầu ly hôn với anh L và anh L đồng ý, cả hai anh chị đều thừa nhận không còn chung sống với nhau từ năm 2018 đến nay, bản thân anh chị không thể hàn găn được, như vậy chứng tỏ mâu thuẫn của anh chị đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận cho chị Đ được ly hôn với anh L là phù hợp Điều 56 luật hôn nhân gia đình.

Về con chung: Anh chị có 01 con chung tên Mai Phúc K, sinh ngày 22/6/2015, hiện nay cháu Khang đang do chị Đ trực tiếp nuôi dưỡng, xét thấy chị Đ và anh L đều có nguyện vọng nuôi con, cháu Khang đang do chị Đ nuôi dưỡng và cháu Khang có nguyện vọng sống với mẹ nên chấp nhận yêu cầu của chị Đ giao cháu Khang cho chị Đ nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị Đ tạm thời không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con nên tạm thời không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không giải quyết

Về nợ chung: Không có

Về án phí: Chị Đậu Thị Đ phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn.

Nhận định của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc phù hợp với nhận định trên nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35; Điều 39, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 9, Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Đậu Thị Đ được ly hôn với anh Mai Đình L.

2. Về con chung: Giao 01 con chung là cháu Mai Phúc K, sinh ngày: 22/6/2015 cho chị Đậu Thị Đ trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị Đ tạm thời không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con nên tạm thời không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

Anh Mai Đình L được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được ngăn cản. Khi cần thiết, chị Đậu Thị Đ và anh Mai Đình L được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chung vẫn được pháp luật bảo vệ.

3. Về tài sản chung: không giải quyết.

4. Về nợ chung: Không giải quyết.

5. Về án phí: chị Đậu Thị Đ phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn ) án phí ly hôn sơ thẩm. Số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn) tạm ứng án phí chị Đ đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc theo biên lai thu số 0007140 ngày 21/12/2022 được tính trừ vào án phí.

Chị Đậu Thị Đ và anh Mai Đình L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ