- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị T.
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ________________________ Bản án số: 41/2023/HNGĐ-ST Ngày: 04/7/2023 V/v “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thúy
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Liên và ông Lương Tấn Nghị
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Nhật Trường – Thư ký TAND huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.
Đại diện VKSND huyện Tây Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Sơn – Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 86/2023/TLST- HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2023, về “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2023/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 33/2023/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Nguyễn Thị T, sinh năm 1994; Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
Nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã S, huyện T, tỉnh Phú Yên.
Chỗ ở hiện nay: Thôn Đ, xã S, huyện T, tỉnh Phú Yên.
Bị đơn: Dương Tấn H, sinh năm 1983; Vắng mặt.
Nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã S, huyện T, tỉnh Phú Yên.
Chỗ ở hiện nay: Thôn Đ, xã S, huyện T, tỉnh Phú Yên.
Người làm chứng: Nguyễn Thị N, sinh năm 1985; Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn Đ xã S, huyện T, tỉnh Phú Yên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Nguyễn Thị T trình bày: Bà Nguyễn Thị T và ông Dương Tấn H tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Sơn Thành Tây vào ngày 19/8/2014. Sau thời gian chung sống hạnh phúc, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Ông H không quan tâm vợ con, thường xuyên ăn nhậu, kình cãi vợ con. Năm 2020, bà T đã nộp đơn xin ly hôn với Ông H nhưng vì con nên xin rút đơn. Sau thời gian đó, bà T cố níu kéo nhiều lần nhưng vợ chồng không hòa hợp được. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay, không cùng chí hướng xây dựng hạnh phúc gia đình. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không tồn tại nên bà T yêu cầu được ly hôn với Ông H.
Về con chung: Có 02 con chung tên Dương Nguyễn Bảo H, sinh ngày 19/02/2015 và Dương Hạo N, sinh ngày 24/02/2017, hiện hai cháu đang ở với bà T. Ly hôn, bà T yêu cầu được nuôi hai con chung H và N; không yêu cầu Ông H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản: Bà T không yêu cầu Tòa giải quyết.
Bị đơn ông Dương Tấn H được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do và không gửi ý kiến bằng văn bản cho Tòa án.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Hòa phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn đã tuân thủ và thực hiện đúng theo quy định pháp luật tố tụng. Bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn, vì mâu thuẫn đã trầm trọng và kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Về con chung: Giao 02 con chung tên Dương Nguyễn Bảo Hân, sinh ngày 19/02/2015 và Dương Hạo Nam, sinh ngày 24/02/2017 cho nguyên đơn Tiền trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Nguyên đơn không yêu cầu nên không xét. Về tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên không xét. Nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Các đương sự tranh chấp về ly hôn, là tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự và bị đơn có nơi cư trú hiện nay tại: Thôn T, xã S, huyện T, tỉnh Phú Yên, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.
[1.2] Nguyên đơn, người làm chứng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do và không gửi ý kiến bằng văn bản cho Tòa án, nên Hội đồng xét xử xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 BLTTDS.
[2] Xét yêu cầu của đương sự:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn Nguyễn Thị T và bị đơn Dương Tấn H tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S vào ngày 19/8/2014 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vả và sống ly thân từ năm 2020 đến nay. Mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày càng trầm trọng, mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm ai, đúng như xác nhận của Công an xã S tại biên bản xác minh ngày 25/4/2023.
Ý kiến bà Nguyễn Thị N là chị ruột của nguyên đơn cho biết hôn nhân giữa bà T và Ông H không hạnh phúc, xảy ra nhiều mẫu thuẫn, đã sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay, không ai quan tâm ai, mạnh ai nấy sống đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Như vậy, đủ cơ sở xác định, mâu thuẫn giữa bà T và Ông H đã trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị T như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ.
[2.2] Về con chung: Có 02 con chung tên Dương Nguyễn Bảo H, sinh ngày 19/02/2015 và Dương Hạo N, sinh ngày 24/02/2017, hiện do nguyên đơn đang nuôi dưỡng. Xét thấy, cháu H và N lâu nay do nguyên đơn nuôi dưỡng và cháu Hân có nguyện vọng được tiếp tục ở với nguyên đơn, cháu N còn nhỏ cần sự chăm sóc của người mẹ. Để tạo điều kiện cho hai cháu V, N phát triển tốt về thể chất lẫn tinh thần, cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn; giao hai cháu V, N cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Nguyên đơn không yêu cầu nên không xét.
[2.4] Về tài sản: Nguyên đơn không yêu cầu nên không xét.
[3] Về án phí: Nguyên đơn Nguyễn Thị T phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 BLTTDS;
Căn cứ các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị T.
1. Về hôn nhân: Nguyên đơn Nguyễn Thị T được ly hôn với bị đơn Dương Tấn H.
2. Về con chung: Giao 02 con chung tên Dương Nguyễn Bảo H, sinh ngày 19/02/2015 và Dương Hạo N, sinh ngày 24/02/2017 cho nguyên đơn Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng.
Bị đơn Dương Tấn H không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Nguyên đơn Nguyễn Thị T phải chịu 300.000đ tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm về yêu cầu xin ly hôn, được khấu trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0006065 ngày 21/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.
4. Về kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Phú Yên; - CC THADS huyện Tây Hòa; - VKSND huyện Tây Hòa; - UBND xã Sơn Thành Tây CNKH số 26/2014); - Đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Thúy |