vanban.org

Bản án 41/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lữ Thị H.

Về hôn nhân: Cho chị Lữ Thị H ly hôn với anh Ngân Văn H. Việc nuôi con: Giao con chung Ngân Thị T, sinh ngày 20 tháng 10 năm 2008; Ngân Thị Hoài T, sinh ngày 22 tháng 01 năm 2010 và Ngân Đức T, sinh ngày 04 tháng 12 năm 2013 cho chị Lữ Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "án hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lữ Thị H.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGHĨA ĐÀN
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:41/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 25/7/2023
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Huệ và ông Võ Quang Hòa

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thùy Trang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Thảo Linh - Kiểm sát viên

Trong ngày 25 tháng 7 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn xét xử sơ thẩm công khai sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 86/2023/TLST - HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2023 về yêu cầu “ Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2023/QĐST- HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên toà số 41/QĐST- HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lữ Thị H, sinh năm 1987. (Có mặt)

Nơi ĐKHKTT: Xóm M, xã Nghĩa L, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An.

2. Bị đơn: Anh Ngân Văn H, sinh năm 1984. (Vắng mặt)

Nơi ĐKHKTT: Xóm M, xã Nghĩa L, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lữ Thị H trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Ngân Văn H kết hôn với nhau vào ngày 15 tháng 02 năm 2008 tại Ủy ban nhân dân xã Nghĩa L, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân được xác lập trên cơ sở tự nguyện và hợp pháp. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc với nhau một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, anh H không có trách nhiệm với vợ con nên đã sống ly thân nhau từ năm 2019 đến nay, không còn tình cảm với nhau nữa nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Ngân Văn H.

Về con chung: Chị và anh Ngân Văn H có ba con chung là Ngân Thị T, sinh ngày 20 tháng 10 năm 2008; Ngân Thị Hoài T, sinh ngày 22 tháng 01 năm 2010 và Ngân Đức T, sinh ngày 04 tháng 12 năm 2013. Ly hôn chị H có nguyện vọng nuôi ba con chung và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn là anh Ngân Văn H:

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo cho anh H biết đồng thời tống đạt các tài liệu, giấy triệu tập hợp lệ cho anh H nhưng anh H vẫn không có mặt để giải quyết vụ án. Tòa án đã tiến xác minh và tiến hành niêm yết các tài liệu, chứng cứ tại địa phương nơi anh H cư trú theo đúng quy định tại điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Tòa án đã thu thập chứng cứ đúng theo quy định của pháp luật.

- Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án: Hội đồng xét xử đã tuân theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án; Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định tại điều 51, điều 236, điều 237 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật

- Về quan điểm giải quyết vụ án đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lữ Thị H là cho ly hôn với anh Ngân Văn H; Việc nuôi con: đề nghị hội đồng xét xử giao con chung Ngân Thị T, sinh ngày 20 tháng 10 năm 2008; Ngân Thị Hoài T, sinh ngày 22 tháng 01 năm 2010 và Ngân Đức T, sinh ngày 04 tháng 12 năm 2013 cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi các con chung trưởng thành; Về án phí: Nguyên đơn chị Lữ Thị H thuộc hộ cận nghèo nên được miễn án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng:

- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Lữ Thị H có nơi cư trú tại Xóm M, xã Nghĩa L, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An yêu cầu ly hôn với anh Ngân Văn H là bị đơn có nơi cư trú tại Xóm M, xã Nghĩa L, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An do đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn theo quy định tại khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35; điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Về việc xét xử vắng mặt của bị đơn: Bị đơn anh Ngân Văn H có hộ khẩu thường trú tại Xóm M, xã Nghĩa L, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An, quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo cho anh H biết đồng thời tống đạt các tài liệu, giấy triệu tập hợp lệ cho thân nhân của anh H. Quá trình xác minh thì được biết sau khi nhận giấy báo của Toà án anh H đã biết thời gian, địa điểm đến Toà án để giải quyết vụ án nhưng anh H không đến và không có ý kiến gì. Toà án đã tiến hành xác minh và niêm yết các tài liệu, giấy triệu tập và các chứng cứ tại địa phương nơi anh H cư trú theo đúng quy định tại điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung

2.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lữ Thị H và anh Ngân Văn H kết hôn với nhau vào ngày 15 tháng 02 năm 2008 tại Ủy ban nhân dân xã Nghĩa L, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân được xác lập trên cơ sở tự nguyện và hợp pháp. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc với nhau một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, đã sống ly thân nhau từ năm 2019 đến nay. Xét thấy tình cảm giữa chị H và anh H không còn, mâu thuẫn đã trở nên trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lữ Thị H.

2.2. Về con chung: Chị Lữ Thị H và anh Ngân Văn H có ba con chung là Ngân Thị T, sinh ngày 20 tháng 10 năm 2008; Ngân Thị Hoài T, sinh ngày 22 tháng 01 năm 2010 và Ngân Đức T, sinh ngày 04 tháng 12 năm 2013. Quá trình chị H và anh H sống ly thân thì chị H là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc các con chung nên chị H có nguyện vọng được nuôi ba con chung, các con chung đều có nguyện vọng được ở với mẹ, để đảm bảo quyền lợi cho các con chung hội đồng xét xử thấy rằng cần giao các con chung là Ngân Thị T, Ngân Thị Hoài T và Ngân Đức T cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi các con chung trưởng thành là phù hợp.

2.3. Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh H do chị H không yêu cầu.

2.4. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lữ Thị H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí: Nguyên đơn chị Lữ Thị H thuộc hộ cận nghèo nên được miễn án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39; điểm b khoản 2 điều 227, điểm b khoản 1 điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 điều 51; khoản 1 điều 56; điều 58, điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lữ Thị H.

1.Về hôn nhân: Cho chị Lữ Thị H ly hôn với anh Ngân Văn H.

2.Việc nuôi con: Giao con chung Ngân Thị T, sinh ngày 20 tháng 10 năm 2008; Ngân Thị Hoài T, sinh ngày 22 tháng 01 năm 2010 và Ngân Đức T, sinh ngày 04 tháng 12 năm 2013 cho chị Lữ Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi các con chung trưởng thành. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh H do chị H không yêu cầu.

Anh H có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con chung khi có căn cứ hoặc có lý do chính đáng theo quy định của pháp luật thì có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng, mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án, chị Lữ Thị H thuộc hộ cận nghèo nên được miễn án phí ly hôn sơ thẩm.

4. Nguyên đơn chị Lữ Thị H có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn anh Ngân Văn H có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ