vanban.org

Bản án 41/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị Kiều T ly hôn với anh Nguyễn Văn H.

Về con chung: Giao con chung Nguyễn Kim Hoàng P, sinh ngày 20/9/2022 cho anh Nguyễn Văn H trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Hồ Thị Kiều T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn Trinh Hoàn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị Kiều T ly hôn với anh Nguyễn Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HỚN QUẢN
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41 /2023/HNGĐ-ST
Ngày: 31 – 5 - 2023
V/v “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thu Thủy

Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hoàng Thị Phương

2. Bà Phan Thị Vui

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Long – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Hùng – Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản xét xử sơ thẩm, công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 109/2023/TLST – HNGĐ ngày 13 tháng 4 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 08/5/2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Hồ Thị Kiều T, sinh năm 2004

Địa chỉ: Tổ 7, khu phố 1, thị trấn K, huyện Hớn Q, tỉnh Bình Phước

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Hoàn, sinh năm 1994

Địa chỉ: Tổ 7, khu phố 1, thị trấn K, huyện Hớn Q, tỉnh Bình Phước

(Nguyên đơn, bị đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và biên bản ghi lời nguyên đơn chị Hồ Thị Kiều T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị Kiều T và anh Nguyễn Văn H kết hôn năm 2022, đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 116 ngày 31/10/2022 của Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Hớn Q, tỉnh Bình Phước. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm nên thường xảy ra cãi vã, vợ chồng không có sự quan tâm lẫn nhau, nay đã không còn tình cảm nên chị T yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn Hoàn.

Về con chung: Chị T và anh H có 01 con chung là Nguyễn Kim Hoàng P, sinh ngày 20/9/2022, khi ly hôn chúng chị T đồng ý giao con chung cho anh H nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con hai bên tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tài sản chung và nợ chung: Không có.

Tại bản tự khai bị đơn anh Nguyễn Văn H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh H và chị T kết hôn năm 2022, đăng ký kết hôn tại UBND xã Đồng N, huyện Hớn Q, tỉnh Bình Phước. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn do có nhiều vấn đề bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xảy ra cãi vã và không còn tình cảm với nhau. Nay chị T yêu cầu ly hôn thì anh H đồng ý.

Về con chung: Chị T và anh H có 01 con chung là Nguyễn Kim Hoàng P, sinh ngày 20/9/2022, hiện nay con chung đang do anh H nuôi dưỡng. Khi ly hôn anh H yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung và nợ chung: Không có.

Phát biểu của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát:

Về tố tụng: Thẩm phán đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự về việc thu thập chứng cứ, giải quyết vụ án từ khi, nhận đơn, thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử mở phiên toà. Tại phiên toà hôm nay, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Xét thấy cả chị Hồ Thị Kiều T và anh Nguyễn Văn H đều thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn và đồng ý ly hôn nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện, cho chị Hồ Thị Kiều T và anh Nguyễn Văn H ly hôn. Chị T đồng ý giao con chung Nguyễn Kim Hoàng P, sinh ngày 20/9/2022 cho anh Nguyễn Văn H nuôi dưỡng nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận. Anh H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Chị Hồ Thị Kiều T yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn H, bị đơn có nơi cư trú tại huyện Hớn Quản, nên đây là vụ án Ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Chị Hồ Thị Kiều T và anh Nguyễn Văn H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt cả hai đương sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh H tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn năm 2022 tại Ủy ban nhân dân xã Đồng Nơ, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước nên đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

Chị T xác định mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng đã không còn chung sống cùng nhau. Anh H cũng thừa nhận giữa anh chị có mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn nên đồng ý ly hôn. Do cả hai đương sự cùng mong muốn ly hôn nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị Kiều T, cho chị T và anh H ly hôn.

Về con chung: Anh Nguyễn Văn H và chị Hồ Thị Kiều T thống nhất giao con chung Nguyễn Kim Hoàng P, sinh ngày 20/9/2022 cho anh Nguyễn Văn H nuôi dưỡng, đây là ý chí tự nguyện của các đương sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Anh Nguyễn Văn H không yêu cầu chị Hồ Thị Kiều T cấp dưỡng nuôi con nên không giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn chị Hồ Thị Kiều T phải chịu 300.000đ án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm được trừ vào tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị Kiều T ly hôn với anh Nguyễn Văn H.

2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Kim Hoàng P, sinh ngày 20/9/2022 cho anh Nguyễn Văn H trực tiếp nuôi dưỡng.

Chị Hồ Thị Kiều T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích mọi mặt của con chưa thành niên, khi người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con. Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cấp dưỡng nuôi con.

3. Về án phí: Nguyên đơn chị Hồ Thị Kiều T phải chịu 300.000đ án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm được trừ vào tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0014467 ngày 13/4/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.

4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định./.

Cỡ chữ