vanban.org

Bản án 41/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều

82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "V/v tranh chấp “ Ly hôn giữa chị Đào Thị Bé N với anh Nguyễn Quang T”."
  • Tòa quyết gì? 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ, TP. CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 41/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 28/03/2023

HUYỆN CỜ ĐỎ Độc lập - Tự do - Hạnh phúc V/v tranh chấp “ Ly hôn giữa chị Đào Thị Bé N với anh Nguyễn Quang T”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ, TP. CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Thanh Huỳnh . Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hữu Thọ. 2. Bà Nguyễn Thị Huệ. - Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ. Ngày 28 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 278/2022/TLST- HNGĐ ngày 16 tháng 11 năm 2022 về tranh chấp “Ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2023/QĐXX-ST ngày 23 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Chị Đào Thị Bé N, sinh năm 2000. Địa chỉ số B, khu vực T, phường T, quận C, TP .. 2. Bị đơn: Anh Nguyễn Quang T, sinh năm 1993. ( vắng mặt ) Địa chỉ số A, ấp T, xã T, huyện C, TP ..

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ly hôn đề ngày 04 tháng 7 năm 2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Đào Thị Bé N trình bày: Do quen biết và tự tìm hiểu nhau, chị và anh Nguyễn Quang T tự nguyện tiến tới hôn nhân vào năm 2015, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, TP .. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc và có 01 con chung cháu Đào Ngân K, sinh ngày 01/4//2016. Hiện hai cháu K đang sống cùng với chị. Sau đó, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do vợ, chồng bất đồng quan điểm sống, cự cải về tiền bạc, nhiều lần xúc phạm, đe dọa chị và bỏ chị và con đi nơi khác sinh sống từ năm 2019 cho đến nay. Hiện tại, không ai quan tâm đến ai. Nay, tình cảm không còn, vợ chồng không thể hàn gắn nên chị yêu cầu được ly hôn với anh T. Về con chung và nuôi con chung: Chị yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi con chung đến tuổi trưởng thành, chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung: Do anh T vắng mặt nên chị yêu cầu tách ra

giải quyết thành vụ kiện khác nếu phát sinh tranh chấp. Quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa bị đơn anh Nguyễn Quang T được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không rõ lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về tố tụng dân sự: Theo đơn khởi kiện của chị Đào Thị Bé N thì quan hệ tranh chấp của vụ án là “ Ly hôn ”. Theo quy định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ. Bị đơn anh Nguyễn Quang T được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không rõ lý do. Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, có căn cứ xét xử vắng mặt anh T. [2] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị N và anh T là hợp pháp. Anh, chị tự nguyện tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Vợ, chồng cũng có thời gian chung sống với nhau hạnh phúc nhưng sau đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, do khó khăn về kinh tế nên vợ, chồng thường xuyên cự cãi dẫn đến cuộc sống gia đình không hạnh phúc, vợ chồng ly thân từ năm 2019 cho đến nay không ai quan tâm đến ai. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1, Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, có cở sở xác định hôn nhân giữa chị N và anh T đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị N, cho chị được ly hôn với anh T là phù hợp. [3] Về con chung và nuôi con chung: Vợ, chồng có 01 con chung cháu Đào Ngân K, sinh ngày 01/4/2016, từ khi sinh ra đến nay cháu K sống cùng với chị N nên cần tiếp tục giao cháu K cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành là phù hợp. Công nhận chị N không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho anh T, không ai có quyền cản trở. Tuy nhiên, anh T không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Nếu có thì chị N có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của anh T. Vì lợi ích mọi mặt của con khi cần thiết có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con. [4] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung: Do anh T vắng mặt nên cần tách ra giải quyết thành một vụ kiện khác nếu phát sinh tranh chấp là phù hợp. [5] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Đào Thị Bé N phải nộp 300.000đồng án phí theo mục 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: 1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Đào Thị Bé N. Cho ly hôn giữa chị Đào Thị Bé N và anh Nguyễn Quang T. 2. Về con chung và nuôi con chung: Vợ, chồng có 01 con chung gồm cháu Đào Ngân K, sinh ngày 01/4/2016. Giao con chung cháu K cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, chị N không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho anh T, không ai có quyền cản trở. Tuy nhiên, anh T không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Nếu có thì chị N có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của anh T. Vì lợi ích mọi mặt của con khi cần thiết có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con. 3. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung: Tách ra giải quyết thành một vụ kiện khác nếu các đương sự phát sinh tranh chấp. 4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Đào Thị Bé N phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Chuyển tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0009612 ngày 16 tháng 11 năm 2022 thành tiền án phí. Phiên tòa xét xử công khai, tuyên án có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử theo trình tự phúc thẩm

Cỡ chữ