vanban.org

Bản án 41/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Đinh Thị Mỹ H được ly hôn với anh Nguyễn Chí S.

[2] Về con chung: Giao cháu Nguyễn Đinh Kim N, sinh năm 2012 cho chị Đinh Thị Mỹ H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu thành niên, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Anh S có quyền thăm nom con chung, không ai có quyền ngăn cản. Các bên có quyền yêu cầu thay đổi người… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LY HÔN"
  • Tòa quyết gì? [1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Đinh Thị Mỹ H được ly hôn với anh Nguyễn Chí S.
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆNN BÙ ĐĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH PHƯỚC
Bản án số: 41/2023/HNGĐ – ST
Ngày: 12/6/2023
V/v " Ly hôn".

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Lưu Thùy Linh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thận

Ông Trần Đức Hoà

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hùng – Thư ký Tòa án nhân dân Hện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng: Bà Trịnh Thị Tâm, chức vụ Kiểm sát viên.

Trong ngày 12 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước; xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý thụ lý số: 75/HNGĐ-ST, ngày 10 tháng 4 năm 2023; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử 86/2023/QĐST - HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2023; giữa các đương sự:

Nguyên đơn: chị Đinh Thị Mỹ H ( N), sinh năm 1985 ( có mặt)

Cư trú tại: thôn 3, xã N, huyện B, tỉnh P.

Bị đơn: anh Nguyễn Chí S; sinh năm 1978 ( vắng mặt) Cư trú tại: thôn Đ, xã M, huyện Bù Đ, tỉnh P.

TÓM TẮT NỘI DUNGVỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 05/3/2023 quá trình thụ lý vụ án, nguyên đơn chị Đinh Thị Mỹ H trình bày: Chị Đinh Thị Mỹ H và anh Nguyễn Chí S tự nguyện chung sống từ năm 2003, tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện B, tỉnh P; vợ chồng chung sống đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hoà hợp, không cùng quan điểm sống, từ đó vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, xúc phạm lẫn nhau, anh S đã bỏ nhà đi sống ly thân từ năm 2016 liên tục đến nay, không có trách nhiệm gì với vợ con, sống bỏ mặc, không có sự quan tâm, chăm sóc gì nhau. Hiện nay chị H thấy không còn tình cảm với anh S nên chị H yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng giải quyết cho chị được ly hôn với anh S.

Về con chung: Có 02 con chung là các cháu Nguyễn Chí L, sinh năm 2004; cháu Nguyễn Đinh Kim N, sinh năm 2012. Sau khi ly hôn chị H có nguyện vọng trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu N cho đến khi các cháu thành niên, không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con. Cháu L hiện nay đã thành niên nên không đặt ra vấn đề nuôi dưỡng, cấp dưỡng. Trong thời gian vợ chồng ly thân cả hai con chung đều chung sống cùng chị H.

Về tài sản chung: không có, không yêu cầu toà án giải quyết.

Về nợ chung: không có.

Bị đơn anh Nguyễn Chí S: Toà án đã tiến hành giao các văn bản tố tụng và giấy triệu tập cho anh S hợp lệ nhưng anh S không thực hiện, không chấp hành giấy triệu tập của toà án; không giao nộp bất kỳ tài liệu, chứng cứ gì, không trình bày ý kiến gì cho toà án.

Về tài liệu, chứng cứ: Nguyên đơn nộp tài liệu, chứng cứ như trong hồ sơ vụ án; ngoài ra không giao nộp gì thêm. Bị đơn không giao nộp tài liệu, chứng cứ gì.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về vụ án: Về tố tụng Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của bộ Luật Tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu được ly hôn của nguyên đơn; về con chung giao cháu Nguyễn Đinh Kim N, sinh năm 2012 cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu thành niên, không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con; cháu L đã thành niên nên không đặt ra vấn đề nuôi dưỡng, cấp dưỡng; về tài sản chung, nợ chung không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào lời khai của các đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai của chị H và giấy chứng nhận đăng ký kết hôn, xác định được chị H và anh S tự nguyện kết hôn năm 2003 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện B, tỉnh P phù hợp với giấy chứng nhận kết hôn đã được chị H giao nộp hợp pháp tại Tòa án. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh S là hợp pháp.

Về mâu thuẫn gia đình: Theo lời khai của chị H cho rằng giữa chị và anh S có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình, lối sống, quan điểm sống không hợp từ đó vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, có lời lẽ xúc phạm chị, làm mất tình cảm; Anh S tự ý bỏ nhà đi từ năm 2016, không còn sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau, không có trách nhiệm gì với vợ con, sống bỏ mặc kéo dài; hiện nay chị H yêu cầu được ly hôn, phía anh S không hợp tác làm việc tại toà án, không thể hiện ý kiến, nguyện vọng của mình, không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì. Căn cứ vào lời khai của người làm chứng xác định được giữa chị H và anh S có xảy ra mâu thuẫn, thường xuyên xảy ra cãi vã nhau, sống ly thân kéo dài. Như vậy, có căn cứ xác định giữa anh S và chị H là có mâu thuẫn, cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H.

Về con chung: Căn cứ vào lời khai của chị H và giấy khai sinh do chị H cung cấp, xác định được giữa anh S và chị H có 02 con chung là các cháu Nguyễn Chí L, sinh năm 2004; cháu Nguyễn Đinh Kim N, sinh năm 2012, ly hôn chị H có nguyện vọng trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu N đến khi cháu thành niên, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Lời khai của cháu N có nguyện vọng được chung sống với mẹ, khi ba và mẹ ly hôn; qua lời khai các nhân chứng xác định được cháu N hiện chung sống cùng mẹ, để cháu tiếp tục ổn định cuộc sống, sinh hoạt, học tập cần chấp nhận yêu cầu của chị H và nguyện vọng của cháu N, giao cháu N cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu thành niên, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Đối với cháu L hiện nay đã thành niên nên không đặt ra vấn đề nuôi dưỡng, cấp dưỡng.

Về tài sản chung: theo nguyên đơn không có.

Về nợ chung: theo nguyên đơn không có.

Về án phí: Theo quy định tại khoản 2, khoản 4 Điều 131 của bộ Luật Tố tụng dân sự đương sự phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo luật định.

Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo luật định.

Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51; Điều 56, 81, 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 35; khoản 4 Điều 147; Điều 266 và Điều 273 bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH16 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án ngày 30/12/2016.

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Đinh Thị Mỹ H được ly hôn với anh Nguyễn Chí S.

[2] Về con chung: Giao cháu Nguyễn Đinh Kim N, sinh năm 2012 cho chị Đinh Thị Mỹ H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu thành niên, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Anh S có quyền thăm nom con chung, không ai có quyền ngăn cản. Các bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con theo qui định của pháp luật. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

[3] Về tài sản chung: không có.

[4] Về nợ chung: không có.

[5] Về án phí: Nguyên đơn chị Đinh Thị Mỹ H nộp 300.000đ tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà nguyên đơn đã nộp trước là 300.000đ, theo biên lai thu tiền số 0000980, ngày 10/4/2023 của Chi cục thi hành án dân sự Hện Bù Đăng.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, người phải thi hành án không tự giác thi hành, thì phải chịu lãi suất theo mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS tương ứng với thời gian và số tiền chậm thực hiện.

[6] Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ