- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Thái Thị Thu Hương - Tạ Minh Sang"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Thái Thị Thu H với anh Tạ Minh S. Chị H được ly hôn với anh S.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2023/HNGĐ-ST Ngày: 27-9-2023 V/v tranh chấp “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vui.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Tẻo;
2. Bà Lê Thị Sinh Phương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Tươi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Đình Lưỡng - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 111/2023/TLHN-ST ngày 06 tháng 7 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2023/QĐXXST-HN ngày 07 tháng 9 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 29/2023/QĐST-HN ngày 22 tháng 9 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Thái Thị Thu H, sinh năm 1986.
Địa chỉ: Số 32, khu phố 2, thị trấn B, huyện B, tỉnh Tây Ninh.
- Bị đơn: Anh Tạ Minh S, sinh năm: 1984.
Địa chỉ: Tổ 5, ấp T, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh.
Tất cả vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn chị Thái Thị Thu H trình bày: Chị và anh Tạ Minh S tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2004, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Bến Cầu, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh. Vợ chồng chung sống có 01 con chung tên Tạ Minh T, sinh ngày 20/7/2004, hiện đang sống chung với vợ chồng chị.
Trong thời gian chung sống anh chị thường xuyên phát mâu thuẫn nhưng mâu thuẫn nhiều nhất vào tháng 3/2023, nguyên nhân do anh S không lo đi làm phụ giúp kinh tế gia đình lại đam mê cờ bạc dẫn đến thiếu nợ, nhiều lần chị phải trả nợ thay cho anh S. Chị khuyên nhủ và tha thứ rất nhiều lần nhưng anh S vẫn không thay đổi nên vợ chồng sống ly thân từ tháng 3/2023 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân cả hai có gặp nhau nhưng không bàn bạc việc hàn gắn gia đình. Chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu ly hôn với anh S.
Về con chung: Hiện con đã thành niên và có khả năng lao động nên không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.
Do bận công việc nên chị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn anh Tạ Minh S trình bày: Mặc dù đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh S vẫn vắng mặt nên không có lời trình bày.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn anh S không thực hiện đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Thái Thị Thu H; Con chung, hiện đã thành niên và có khả năng lao động nên không xem xét giải quyết; Tài sản và nợ chung, chị H khai không có và không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Chị Thái Thị Thu H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và anh Tạ Minh S đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt là phù hợp với Điều 227 và 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về hôn nhân: Chị Thái Thị Thu H và anh Tạ Minh S kết hôn trên cơ sở hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn nên được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.
Xét tình trạng hôn nhân của anh chị thì thấy rằng: Anh chị chung sống vào năm 2004, đến năm 2023 anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn do anh S không đi làm phụ giúp kinh tế gia đình lại đam mê cờ bạc. Chị H khuyên nhủ và tha thứ nhiều lần nhưng anh S vẫn không thay đổi và trong thời gian sống ly thân anh S và chị H không bàn việc đoàn tụ, không ai quan tâm đến ai, hơn nữa anh S đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt chứng tỏ anh S không có thiện chí hàn gắn gia đình. Từ những nhận định trên, có đủ căn cứ cho rằng mâu thuẫn giữa chị H và anh S đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Có 01 người tên Tạ Minh T, sinh ngày 20/7/2004, hiện đã thành niên và có khả năng lao động nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị H khai không có và không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Chị H phải chịu án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Thái Thị Thu H với anh Tạ Minh S. Chị H được ly hôn với anh S.
2. Về con chung: Có 01 người tên Tạ Minh T, sinh ngày 20/7/2004, hiện đã thành niên và có khả năng lao động nên không xem xét giải quyết.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Thái Thị Thu H khai không có nên không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Chị Thái Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí sơ thẩm hôn nhân gia đình. Khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0023137 ngày 05-7-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Cầu. Ghi nhận chị H đã nộp đủ tiền án phí.
Các đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh theo trình tự phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV&THA. TAND tỉnh; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - VKSND huyện Bến Cầu; - Chi cục THADS huyện Bến Cầu; - UBND Thị trấn (Số 32/2004); - Các đương sự; - Lưu. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Vui |