vanban.org

Bản án 41/2022/ST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bà Bùi Thị Hồng Hạnh được ly hôn với ông Lưu Văn Bắc. Về con chung: Giao người con chung tên Lưu Tuấn Anh, sinh ngày 09/9/2009 và người con chung tên Lưu Gia Hân, sinh ngày 10/5/2013 cho bà Bùi Thị Hồng Hạnh chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Cấp dưỡng không đặt ra. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hon"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Dân sự; Điều 228 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỘC NINH
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2022/ST-HNGĐ
Ngày: 19/7/2022
V/v T/c ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hoài Nam Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Điểu Lành 2. Bà Nguyễn Thị Kiều Trang

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Anh Hùng, là thư ký Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh

- Đại diện viện kiểm nhân dân huyện Lộc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Như Mai Trang- Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 105/2022/TLST- HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2022 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2022/QĐXX-HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2022 và thông báo mở lại phiên tòa số 45 ngày 15/7/2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Hồng Hạnh, sinh năm: 1989 - Có mặt

Địa chỉ: Ấp Việt Quang, xã Lộc Quang, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.

Bị đơn: Ông Lưu Văn Bắc, sinh năm: 1983 ( có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp Việt Quang, xã Lộc Quang, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 25/4/2022 và tại phiên Tòa nguyên đơn bà Bùi Thị Hồng Hạnh trình bày:

Về quan hệ hôn nhân:

Bà Hạnh tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn với ông Lưu Văn Bắc tại UBND xã Lộc Quang, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước ngày 27/10/2008. Vợ chồng sống hạnh phúc đến khoảng tháng 01 năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, do tính tình không hợp, vợ chồng bất đồng quan điểm nên cuộc sống không còn hạnh phúc. Nay nhận thấy vợ chồng không thể chung sống với nhau được nữa nên bà xin được ly hôn với ông Bắc.

Về con chung: Vợ chồng có 02(hai) người con chung tên Lưu Tuấn Anh, sinh ngày 09/9/2009 và người con tên Lưu Gia Hân, sinh ngày 10/5/2013, khi ly hôn nguyện vọng bà nuôi hai người con, không yêu cầu cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

Về nợ: Không có

Theo bản lấy lời khai ngày 30/5/2022 bị đơn ông Lưu Văn Bắc trình bày:

Ông và bà Hạnh sống chung và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Lộc Quang, huyện Lộc Ninh, trước khi kết hôn có tìm hiểu nhau trong thời gian 06 (sáu) tháng, sau khi kết hôn vợ chồng sống tự lập tại ấp Soor Rung, xã Lộc Phú, vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 01 năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm nay ông đồng ý ly hôn với bà Hạnh.

Về con chung: Vợ chồng có 02(hai) người con chung tên Lưu Tuấn Anh, sinh ngày 09/9/2009 và người con tên Lưu Gia Hân, sinh ngày 10/5/2013, hiện các con đang sống với ông Bắc, khi ly hôn nguyện vọng mỗi người nuôi một người con, ông không yêu cầu cấp dưỡng.

Về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết.

Về nợ: Không có

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh tham gia phiên Tòa:

Về việc chấp hành tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc xác định mối quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết, thực hiện thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng, thu thập chứng cứ, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát, thành phần tham gia xét xử được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét sử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh không có kiến nghị về tố tụng.

Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị Hồng Hạnh

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị Hồng Hạnh được ly hôn với ông Lưu Văn Bắc

- Về con chung: Giao người con chung tên Lưu Tuấn Anh, sinh ngày 09/9/2009 và người con chung tên Lưu Gia Hân, sinh ngày 10/5/2013 cho bà Hạnh chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên Tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Nguyên đơn bà Bùi Thị hồng Hạnh có đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh giải quyết ly hôn với ông Lưu Văn Bắc. Ông, bà có hộ khẩu thường trú tại xã Lộc Quang, huyện Lộc Ninh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh, được quy định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Tòa án đã tiến hành làm việc với ông Bắc, ông đã có ý kiến trình bày và có đơn xin vắng mặt nên tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông theo khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Bà Hạnh và ông Bắc tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn.

Ngày 27/10/2008 ông, bà được UBND xã Lộc Quang, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước cấp giấy chứng nhận kết hôn số 102, quyển số 01/2008, vì vậy hôn nhân của bà Hạnh và ông Bắc là hợp pháp.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Hạnh thì xác định không còn tình cảm nên kiên quyết được ly hôn, ông Bắc thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn, bất đồng quan điểm nên đồng ý ly hôn, do ông có đơn xin vắng mặt nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải được. Như vậy tình trạng hôn nhân giữa bà Hạnh và ông Bắc đã trầm trọng, cuộc sống không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được; Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử quyết định cho bà Hạnh được ly hôn với ông Bắc.

Về con chung:

Hiện ông Bắc đang nuôi dưỡng hai người con chung, trong quá trình giải quyết vụ án ông Bắc có nguyện vọng nuôi một người con chung, bà Hạnh có nguyện vọng nuôi hai người con chung.

Căn cứ vào biên bản lấy lời khai ngày 15/7/2022 của ông Lưu Văn Bắc thể hiện với nội dung:

Hiện cháu Hân bị bệnh thần kinh, đang uống thuốc thường xuyên, ông không nhớ tên thuốc, học hành thua kém bạn bè cùng trang lứa, hiên cháu đang ở với ông, ăn và uống thuốc đầy đủ, thu nhập của ông là chăm lo vườn cho anh trai, cho thuê nhà nên thu nhập hàng tháng trung bình 9.000.000đ. Cháu Hân thường xuyên ở với ông, trường hợp ông đi làm kiếm tiền thì thì có ông Bác và bạn bè thân giữ. Ông có thể giao con cho bà Hạnh trong trường hợp bà làm việc tại huyện Lộc Ninh gần trường học và bệnh viện.

Xét việc bà Hạnh hiện đi làm công nhân và có cung cấp tài liệu có mức thu nhập ổn định và nguyện vọng của cháu Tuấn Anh được ở với mẹ, nên cần giao người con chung tên Lưu Tuấn Anh, sinh ngày 09/9/2009 cho bà Hạnh chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng.

Xét ông Bắc đang nuôi người con tên Hân (giới tính nữ), cháu đang bị bệnh liên quan về thần kinh, cần được uống thuốc thường xuyên, nhiều khi đi làm ông giao con cho người Bác và bạn bè thân chăm sóc nên không tiện cho việc ông Bắc chăm sóc nuôi dưỡng, ngoài ra ông không có tài liệu chứng cứ thể hiện mức thu nhập ổn định, mặc dù cháu Hân có nguyện vọng ở với ông Bắc, tuy nhiên các đương sự đều thừa nhận cháu do bị bệnh nên học hành không như những đứa trẻ bình thường và ông cũng không nhớ rõ tên thuốc mà cháu đang uống, vì vậy Hội đồng xét xử cần giao người con chung tên Lưu Gia Hân, sinh ngày 10/5/2013 cho bà Hạnh chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng.

Ông Bắc có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai có quyền ngăn cản.

Các đương sự không yêu cầu cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Căn cứ Khoản 4, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy ñònh veà mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa áùn thì nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Như vậy bà Hạnh phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng).

. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp nhận định của Tòa án nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228 Bộ luật dân sự năm 2015;

Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị Hồng Hạnh.

Bà Bùi Thị Hồng Hạnh được ly hôn với ông Lưu Văn Bắc.

Về con chung: Giao người con chung tên Lưu Tuấn Anh, sinh ngày 09/9/2009 và người con chung tên Lưu Gia Hân, sinh ngày 10/5/2013 cho bà Bùi Thị Hồng Hạnh chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Cấp dưỡng không đặt ra.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

2/ Về án phí: Buộc bà Hạnh phải chịu 300.000đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí bà đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lộc Ninh theo biên lai thu tiền số 0009852 ngày 20 tháng 5 năm 2022. 3/ Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ