- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bế Văn M - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1 Tội danh: Tuyên bố bị cáo Bế Văn M phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2022/HSST Ngày 29-4-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: B Nguyễn Hải Ninh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Xuân Quý;
Ông Đ o Xuân Thủy
- Thư ký phiên tòa: Bà Ho ng Thị Lan - Thư ký Tòa án nhân dân th nh phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Hưng - Kiểm sát viên
Trong các ng y 28, 29 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 25/2022/TLST-HS, ng y 16 tháng 3 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2022/QĐXXST-HS ng y 05 tháng 4 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2022/QSST-QĐ ng y 15 tháng 4 năm 2022; Thông báo chuyển ng y xét xử số 29/2022/TB-TA ng y 21 tháng 4 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2022/QSST-QĐ ng y 26 tháng 4 năm 2022 của Tòa án nhân dân th nh phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đối với bị cáo:
Bế Văn M; tên gọi khác: Không có; sinh ng y 14 tháng 8 năm 1997 tại huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú v chỗ ở hiện nay: Tổ 2, khối F, thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: T y; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bế Đại Q và con bà Nguyễn Thị L; v , con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Bị cáo chưa bị xử phạt vi phạm h nh chính, xử lý k luật; bị tạm giam t ng y 07-12-2021 đến nay; có mặt
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Chu Thị Nguyễn P, Luật sư Văn phòng L1, Đo n luật sư tỉnh L; có mặt.
- Bị hại:
1. Anh Lê Hồng P1, sinh năm 1997 Địa chỉ: Số D, đường H, phường H, th nh phố L, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
Người đại diện cho anh Lê Hồng P1 giải quyết vấn đề bồi thường theo ủy quyền: Chị Lê Quỳnh M1, địa chỉ: 4, đường L, phường V, th nh phố L, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.
2. Bà Lương Thị D, sinh năm 1976, địa chỉ: Ngõ F, đường B, phường Đ, th nh phố L, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị L, Địa chỉ: Tổ B, khối F, thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.
- Người giám định: Giám định viên ông Giang Văn H, có mặt; ông Linh Xuân Đ, vắng mặt - thuộc Trung tâm pháp y, Sở y tế tỉnh L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các t i liệu có trong hồ sơ vụ án v diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đư c tóm tắt như sau:
Khoảng 04 giờ 00 phút ng y 02-5-2021, Bế Văn M điều khiển xe môtô nhãn hiệu Honda Vision, biển kiểm soát (BKS) 12D1-122 97, chở theo Lê Hồng P1 đi trên đường B, phường Đ, th nh phố L hướng M đi H Khi đến đoạn trước cửa nh số F đường B, phường Đ, th nh phố L thì xảy ra va chạm với xe đạp nhãn hiệu VIETHUNG m u hồng trắng đi phía trước cùng chiều do b Lương Thị D đang điều khiển Hậu quả, Bế Văn M, Lê Hồng P1, Lương Thị D bị thương, hai xe hư hỏng Kết quả đo nồng độ cồn trong hơi thở của Bế Văn M là 0,401mg/l khí thở
Ngay sau khi xảy ra vụ tai nạn, Công an th nh phố L đã tiến h nh khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm dấu vết phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông Kết quả khám nghiệm như sau: Hiện trường xảy ra vụ tai nạn giao thông tại khu vực trước nh số F đường B, phường Đ, th nh phố L l đoạn đường thẳng, phẳng, tầm nhìn không bị che khuất, mặt đường đư c dải bê tông nhựa rộng 10,10m, tại tim đường có kẻ vạch đôi đứt nét m u v ng chia l m hai chiều xe chạy ngư c chiều, chiều bên phải theo hướng đường L đi đường P rộng 4,7m Tại hiện trường để lại các dấu vết cơ bản đư c ghi nhận đánh số thứ tự như sau: (1) vết c y xước; (2) vết c y xước; (3) xe đạp m u hồng trắng, nhãn hiệu VIETHUNG; (4) xe môtô BKS 12D1-122 97; (5) nhóm thực vật rơi vãi
- Điểm mốc đư c xác định l mép cổng bên phải (theo hướng nhìn ra ngoài đường) nh số F đường B, phường Đ, th nh phố L; t điểm mốc do đến đầu vết c y xước (1) (đầu hướng đường L) l 8 3m Tất cả các dấu vết v phương tiện đư c đo v o mép đường bên phải theo hướng đường L đi đường P. + Vết c y xước (1) có diện 26,1m x 0,4m nằm trên phần đường bên phải theo hướng đường L đi đường P Đầu vết hướng về đường L hơi chếch v o mép đường bên phải, đầu còn lại hướng về Phai Vệ hơi chếch v o tim đường Đầu vết hướng về đường L cách mép đường bên phải l 2,60m Đầu vết hướng về đường P cách mép đường bên phải l 4,60m + Vết c y xước (2) có diện 3,20m x 0,05m nằm trên phần đường bên phải theo hướng đường L đi đường P Đầu vết hướng đường L, đầu còn lại hướng đường P. Đầu vết hướng đường L cách mép đường bên phải 1,1m v cách đầu vết (1) hướng đường L 1,5m Đầu vết hướng đường P cách mép đường bên phải l 0,5m v kết thúc tại b n đạp bên trái xe đạp (3) +Xe đạp m u hồng trắng (3), nhãn hiệu VIETHUNG nằm đổ bên trái trên phần đường bên phải theo hướng đường L đi đường P v nằm trên đầu vết c y xước (2) hướng đường P Đầu xe hướng đường L, đuôi xe hướng đường P. T trục bánh trước cách mép đường bên phải 0,6m v cách đầu vết (2) hướng Phai Vệ l 0,45m. T trục bánh sau cách mép đường bên phải l 0,35m + Xe môtô BKS 12D1-122 97 (4) đư c dựng lên bằng chân chống cạnh trên đường bên phải theo chiều hướng đường L đi đường P Đầu xe hướng về phía tim đường, đuôi xe hướng về mép đường bên phải T trục bánh trước cách mép đường bên phải 5m T trục bánh sau cách mép đường bên phải l 4m v cách tâm trục bánh sau xe đạp (3) l 18,10m + Nhóm thực vật rơi vãi có diện 24,60m x 5,5m nằm rải rác t đầu vết (1) hướng đường L đến xe môtô BKS 12D1-122.97 (4). T nhóm thực vật cách mép đường bên phải 2,5m v cách tâm trục bánh sau xe đạp (3) l 5,35m
- Xe môtô BKS 12D1-122 97, nhãn hiệu Honda Vision, m u sơn xanh để lại các dấu vết cơ bản sau: Mặt nạ phía trước đầu xe bị nứt, vỡ khuyết nhựa có diện 13cm x 12cm, mép dưới cao cách mặt đất 65cm; phần bên trái nắp trước tay lái có vết trư t xước, m i mòn nhựa, chiều hướng trư t t trước về sau có diện 11cm x 1,5cm; cánh yếm bên phải bị nứt vỡ, khuyết nhựa, nhiều vị trí kết nối bị tuột khỏi vị trí; vết nứt, vỡ có diện 63cm x 24cm, mép dưới cao cách mặt đất 23cm; phần đầu chắn bùn của bánh xe phía trước bị nứt, vỡ nhựa ốp bảo vệ có diện 6cm x 2cm, mép dưới cao cách mặt đất 49cm
- Xe đạp nhãn hiệu VIETHUNG, m u hồng trắng để lại các dấu vết cơ bản sau: Giỏ xe bị nứt vỡ nhựa có diện 25cm x 14cm; c ng xe bị đẩy lệch sang bên phải; tay nắm bên trái có vết trư t xước cao su có diện 6cm x 1cm; đầu b n đạp bên trái có vết trư t xước, m i mòn nhựa có diện 6cm x 1cm; yên sau bị đẩy dồn t sau về trước, t phải sang trái; chắn bùn của bánh xe phía sau bị đẩy dồn t sau về trước, t phải qua trái, cong vênh, biến dạng; yên xe đằng sau đư c gắn thêm một số thanh gỗ vư t bề ngo i bên trái xe l 30cm, vư t bề ngo i bên phải l 35cm; chiều d i phía sau không vư t quá thân xe
Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 182/2021/PYTT ng y 17-6-2021 của Trung tâm pháp y tỉnh L, kết luận t lệ tổn thương cơ thể của Lê Hồng P1 l : 52% (năm mươi hai phần trăm), gồm các thương tích: Sẹo vết mổ vùng thái dương chẩm phải, sẹo dẫn lưu chẩm phải, sẹo vết sây xước bả vai trái, sẹo vết sây xước khu u tay trái, sẹo xây sước mông trái, sẹo vết sây xước mặt trong gối phải, khuyết xương hộp sọ vùng đỉnh, tổn thương nhu mô não vùng thái dương, tụ máu dưới m ng cứng, xuất huyết dưới nhện, chấn động não điều trị ổn định
Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích (bổ sung) số 326/2021/PYTT ngày 05-11-2021 của Trung tâm pháp y tỉnh L kết luận tổng t lệ tổn thương cơ thể của Lê Hồng P1 l : 84% (tám mươi bốn phần trăm), gồm: Liệt nửa người trái mức độ v a do tổn thương bán cầu não phải 62%; điếc nặng sau chấn thương 13%; tổng t lệ phần trăm tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định lần đầu 52%
Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 03/2022/PYTT ng y 20-12-2021 của Trung tâm pháp y tỉnh L kết luận tổng t lệ tổn thương cơ thể của bà Lương Thị D l 05% (năm phần trăm), gồm: Sẹo vết thương vùng chẩm: 02%; chấn động não điều trị ổn định: 03%
Tại bản Kết luận định giá t i sản số 141/KL-HĐĐGTS ng y 18-11-2021 của Hội đồng định giá thường xuyên để định giá t i sản tố tụng hình sự th nh phố L xác định phần bị hư hỏng của chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION m u sơn xanh, BKS 12D1-122 97 số khung 541467, số máy 0621600 thiệt hại trị giá 500 000 đồng; phần hư hỏng, cong vênh của 01 xe đạp nhãn hiệu VIETHUNG m u sơn hồng trắng trị giá 200 000 đồng
Tại bản Kết luận giám định kỹ thuật số 136/GĐKT-ĐK ng y 18-01-2022 của Công ty Cổ phần Đ2 kết luận xe mô tô BKS 12D1-122 97tại thời điểm xảy ra tai nạn: Hệ thống đèn chiếu sáng phía trước, các đèn tín hiệu, còi không có đủ cơ sở để kết luận; hệ thống an to n còn lại đầy đủ, hoạt động bình thường v đảm bảo an to n kỹ thuật
Tại Cơ quan điều tra, Bế Văn M khai nhận: Ng y 02-5-2021, Bế Văn M sử dụng rư u bia tại quán H1, xã M, th nh phố L rồi điều khiển xe mô tô BKS 12D1-122 97chở Lê Hồng P1 đi t quán hát về nh tại thị trấn C, huyện C, Bế Văn M điều khiển xe đi với vận tốc 50km/ giờ Khi đi trên đường B T1 đoạn Bảo hiểm xã hội tỉnh thì xe của Bế Văn M điều khiển đâm v o phía sau của xe đạp do một người phụ nữ điều khiển đi phía trước, Bế Văn M nhờ người đi đường gọi cứu thương đưa Lê Hồng P1 v người phụ nữ đến bệnh viện cấp cứu v gọi Công an đến giải quyết
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra Bế Văn M đã bồi thường cho b Lương Thị D số tiền 5 000 000 đồng, b Lương Thị D không có yêu cầu bồi thường gì thêm. Anh Lê Hồng P1 yêu cầu bồi thường số tiền 200 000 000 đồng; bị cáo chưa thực hiện bồi thường
Đối với thiệt hại của chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION m u sơn xanh, BKS 12D1-122 97 Quá trình điều tra xác định xe của b Nguyễn Thị L (mẹ của Bế Văn M) l chủ xe, b Nguyễn Thị L không yêu cầu bồi thường thệt hại về t i sản
Tại bản Cáo trạng số 31/CT-VKS, ngày 16-3-2022, Viện kiểm sát nhân dân th nh phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Bế Văn M về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận h nh vi vi phạm khi tham gia giao thông như bản Cáo trạng nêu Bị cáo không nhất trí mức bồi thường bị hại Lê Hồng P1 đưa ra, vì mức yêu cầu quá cao, bị cáo không có khả năng bồi thường
Bị hại yêu cầu các khoản như bảng kê nộp tại Cơ quan điều tra số tiền 136 518 793 đồng; tại phiên tòa bổ sung thêm yêu cầu bồi thường t ng y 17-8-2021 đến 17-4-2022 tiền thuốc 17 376 000 đồng, bồi dưỡng sức khỏe 3 000 000đ/tháng x 8 tháng = 24 000 000 đồng; bù đắp sức khỏe, tổn thất tinh thần 74 000 000 đồng Tổng các khoản l 251 898 793 đồng
Giám định viên giải thích bản Kết luận giám định pháp y về thương tích (bổ sung) số 326/2021/PYTT ng y 05-11-2021 của Trung tâm pháp y tỉnh L, mà ông Bế Đại Q - bố đẻ bị cáo Bế Văn M có đơn khiếu nại nộp tại phiên tòa
Đối với nội dung thắc mắc việc chưa bóc tách vết thương n o l vết thương cũ bị hại Lê Hồng P1 bị tại nạn năm 2020 v vết thương n o l vết thương mới do tai nạn này 02-5-2021 gây ra, nên các bản kết luận giám định cho rằng do tai nạn ngày 02-5-2021 gây ra l không có căn cứ, thiếu khách quan.
Nội dung n y, Giám định viên giải thích như sau: Các tổn thương đư c ghi nhận tại các Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 182/2021/PYTT và 326/2021/PYTT của Trung tâm Pháp y đối với Lê Hồng P1 là các tổn thương đã đư c ghi nhận tại các Bệnh án điều trị do Công an thành phố L cung cấp kể t khi Lê Hồng P1 nhập viện ngày 02-5-2021. Do đó, việc Lê Hồng P1 đã t ng bị tai nạn giao thông trước đó có các tổn thương cũ t trước không thể hiện tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích nêu trên
Căn cứ vào Quyết định trưng cầu giám định và các tài liệu do Công an thành phố L cung cấp, Trung tâm Pháp y tỉnh L đã tiến h nh giám định thương tích (bổ sung) đối với Lê Hồng P1 vào hồi 14 giờ 15 phút ngày 28-10-2021. Trong quá trình giám định, căn cứ vào các tổn thương đư c ghi nhận tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 182/2021/PYTT ngày 17-6-2021 và triệu chứng lâm sàng, chẩn đoán v phương pháp điều trị đư c ghi nhận tại các Bệnh án nêu trên, người giám định đã chỉ định cho Lê Hồng P1 đi khám chuyên khoa thần kinh cơ, khám chuyên khoa tai mũi họng và khám chuyên khoa mắt, cho kết quả: Khám chuyên khoa thần kinh - cơ: Liệt nửa người trái mức độ v a do tổn thương bán cầu não phải. Khám chuyên khoa T2 - M - Họng: Tai 2 bên ống tai thông thoáng, m ng nhĩ bóng, rõ mốc giải phẫu Mũi không có polyp, vách ngăn không lệch. Họng niêm mạc hồng. Kết quả đo thính lực: Điếc nặng sau chấn thương Khám chuyên khoa mắt: Thị lực: Mắt phải đếm ngón tay 0,2m, mắt trái đếm ngón tay 0,2m. Nhãn áp: Mắt phải 18mmHg, mắt trái 18mmHg. Kết mạc không viêm, giác mạc trong, tiền phòng sạch, đồng tử tròn, thủy tinh thể trong, đáy mắt gai hồng, hệ mạch rõ, không phát hiện tổn thương Kết luận: Không thấy tổn thương thực thể tại mắt. Căn cứ vào kết quả nghiên cứu hồ sơ t i liệu, khám giám định, khám chuyên khoa, cận lâm s ng v Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28-8-2019 của Bộ Y, người giám định kết luận t lệ tổn thương cơ thể hiện tại của Lê Hồng P1 là: Liệt nửa người trái mức độ v a do tổn thương bán cầu não phải: 62% Điếc nặng sau chấn thương: 13% Tổng t lệ phần trăm tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định lần đầu: 52%. Tổng t lệ (theo phương pháp cộng tại Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28-8-2019 của Bộ Y): 84% (tám mươi tư phần trăm) l ho n to n có căn cứ , chính xác và khách quan. Đối với thắc mắc nội dung kết luận: Điếc nặng sau chấn thương: 13% Nội dung n y, Giám định viên giải thích như sau: Căn cứ vào tổn thương sọ não đư c ghi nhận tại các kết quả chụp cắt lớp vi tính sọ não, kết quả chụp cộng hưởng t của Lê Hồng P1 và các chẩn đoán t các bệnh án, người giám định đã chỉ định cho Lê Hồng P1 đi khám chuyên khoa Tai Mũi Họng, kết quả khám tai cho thấy các bộ phận của tai mũi họng không có tổn thương, kết quả đo thính lực (bằng máy đo) cho kết luận: Điếc nặng sau chấn thương, điều đó cho thấy việc Lê Hồng P1 bị điếc nặng là do di chứng chấn thương sọ não gây nên. Đối với nội dung nêu: Bản kết luận giám định pháp y về thương tích lần đầu ngày 17/6/2021 v khám giám định bổ sung ngày 05-11-2021 đều xác định: Tinh thần tỉnh táo, tiếp xúc tốt; nhưng tại phần giám định bổ sung ở mục “Tổng quát” có ghi: Yếu nửa người bên trái. Nội dung n y, Giám định viên giải thích như sau:“Tinh thần tỉnh táo, tiếp xúc tốt” l nói đến yếu tố Tâm thần – là hoạt động của não bộ biểu hiện ra bên ngoài về hành vi, lời nói, cảm xúc… Còn bệnh thần kinh do hệ thống hoặc dây thần kinh bị tổn thương gây rối loạn về vận động, cảm giác của bộ phận cơ thể, ở trường h p này là tổn thương dây thần kinh, biểu hiện ở trường h p này (Lê Hồng P1) là yếu nửa người bên trái.
Do đó, Giám định viên khẳng định bản Kết luận giám định pháp y về thương tích (bổ sung) số 326/2021/PYTT ng y 05-11-2021 của Trung tâm pháp y tỉnh L ban h nh đúng
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đánh giá đủ căn cứ kết luận bị cáo phạm tội như Cáo trạng truy tố, nên giữ nguyên kết luận truy tố v đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Bế Văn M phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ; xử phạt bị cáo mức án t 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung
Vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị trả lại cho bà Nguyễn Thị L 01 xe mô tô hiệu Honda vision BKS 12D1 -122 97 số khung 541461, số máy 0621600 v 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Nguyễn Thị L Trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe mang tên Bế Văn M.
Trách nhiệm bồi thường dân sự: Áp dụng các Điều 584, 585, 586 của Bộ luật Dân sự, đề nghị buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại Lê Hồng P1 tổng các khoản l 166 444 984 đồng
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200 000 đồng v án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải bồi thường
Phần tranh luận: Bị cáo nhất trí về tội danh; về bồi thường dân sự, đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật
Người b o chữa cho bị cáo, luật sư Chu Thị Nguyễn P tranh luận: Về h nh vi phạm tội, bị cáo th a nhận khi điều khiển xe mô tô tham gia giao thông đường bộ trước đó đã uống rư u bia, trong cơ thể có nồng độ cồn vư t quá mức quy định, hậu quả gây ra tai nạn, th a nhận phạm tội theo tội danh truy tố, nên không tranh luận
Về nguyên nhân: Cần xác định có một phần lỗi của bị hại đối với hậu quả xảy ra, vì bị hại biết rõ cả bị cáo v bị hại đều đã uống rư u bia, nhưng vẫn yêu cầu bị cáo đưa về nh , khi đi trên đường chính bản thân bị hại khai l dựa người v o người bị cáo, dẫn đến bị cáo bị ảnh hưởng khi điều khiển xe nên gây ra hậu quả tai nạn
Sau khi xảy ra tai nạn, bị cáo đã có ý thức gọi người cứu chữa bị hại, đến thăm hỏi bị hại, bị cáo không có t i sản nhưng đã tác động bố mẹ đến gặp bị hại để thỏa thuận bồi thường, nhưng do phía bị hại yêu cầu quá cao, nên không đáp ứng đư c; Đối với t lệ thương tổn của bị hại theo kết luận giám định bổ sung còn chưa rõ r ng Thực tế hiện nay theo nguồn thông tin h ng xóm của gia đình bị hại cho biết bị hại Lê Hồng P1 vẫn đi lại bình thường không phải bị liệt như Kết luận giám định nêu
Bị cáo có nhân thân tốt, sự việc xảy ra do vô ý, đã th nh khẩn khai báo, sống trong gia đình có công với cách mạng có ông ngoại, b nội đều đư c tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ, nên đề nghị xử mức án dưới mức thấp nhất Viện kiển sát đề nghị
Đối với trách nhiệm bồi thường: Bị hại đưa ra nhiều khoản không có căn cứ, hóa đơn mua thuốc không có chỉ định của bác sĩ, kê cả các khoản ăn uống h ng ng y, thu nhập người phục vụ không có căn cứ, mức yêu cầu quá cao Ho n cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bố mẹ công chức đã nghỉ hưu, bị cáo chưa có việc làm, không có thu nhập, đề nghị chấp nhận theo quy định pháp luật v bị hại phải chịu một phần lỗi đối với tổn thất tinh thần
Bị cáo nhất trí với lời b o chữa của Luật sư, không bổ sung thêm
Người đại diện cho anh Lê Hồng P1 giải quyết vấn đề bồi thường theo ủy quyền, chị Lê Quỳnh M1 tranh luận: Em trai tôi hiện nay vẫn đang điều trị thuốc nam ở tỉnh Hưng Yên v còn phải điều trị lâu d i, nên đề nghị buộc bị cáo phải bồi thường các khoản cho bị hại Lê Hồng P1 theo yêu cầu
Đại diện Viện kiểm sát tranh luận:
Sau khi nghe Giám định viên tại phiên tòa giải thích bản Kết luận giám định, thì xác định bản Kết luận giám định pháp y về thương tích (bổ sung) số 326/2021/PYTT ngày 05-11-2021 của Trung tâm pháp y tỉnh L l có cơ sở, không có căn cứ xem xét giám định lại t lệ tổn thương cơ thể của Lê Hồng P1.
Về mức án: Viện kiểm sát đã đề nghị mức 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù, đây l mức đề nghị đầu khung hình phạt truy tố
Về nguyên nhân gây ra vụ tai nạn l do bị cáo khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông đã sử dụng rư u bia, không giữ khoảng cách với xe liền trước, nguyên nhân tai nạn xác định lỗi ho n to n thuộc bị cáo
Đối với t i liệu bị cáo xuất trình tại phiên tòa việc có ông ngoại, b nội có công với cách mạng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét
Người b o chữa cho bị cáo không có nội dung khác tranh luận
Lời nói sau cùng, bị cáo nhận biết h nh vi vi phạm quy định khi tham gia giao thông gây thiệt hại sức khỏe, t i sản của người tham gia giao thông, bị cáo mong đư c hưởng mức án thấp nhất, cải tạo trở th nh người có ích cho xã hội
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ v o các t i liệu trong hồ sơ vụ án đã
đư c tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về h nh vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự Quá trình điều tra v tại phiên tòa, người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về h nh vi, quyết định của người tiến h nh tố tụng Do đó, các h nh vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều h p pháp
Đối với yêu cầu hoãn phiên tòa do vắng mặt bị hại Lê Hồng P1 và Giám định viên Linh Xuân Đ: Bị hại Lê Hồng P1 vắng mặt tại phiên tòa, lần vắng mặt n y l lần thứ hai, lần thứ nhất vắng không rõ lý do, lần thứa hai vắng với lý do đang điều trị tại tỉnh Hưng Yên không tham gia đư c, bị hại Lê Hồng P1 đã có lời khai trong hồ sơ vụ án v có đơn đề nghị xét xử vắng mặt Trung tâm pháp y tỉnh L có văn bản phân công Giám định viên Giang Văn H tham gia phiên tòa Bị hại Lương Thị D đã có lời khai trong hồ sơ vụ án v có đơn đề nghị xét xử vắng mặt Việc vắng mặt Giám định viên Linh Xuân Đ, bị hại Lê Hồng P1, bị hại Lương Thị D không ảnh hưởng đến việc xét xử, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến h nh xét xử vụ án
Đối với việc ông Bế Đại Q - bố đẻ bị cáo Bế Văn M có đơn khiếu nại nộp tại phiên tòa, khiếu nại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích (bổ sung) số 326/2021/PYTT ng y 05-11-2021 của Trung tâm pháp y tỉnh L, bị cáo Bế Văn M, người b o chữa cho bị cáo cũng thắc mắc bản Kết luận giám định pháp y trên chưa rõ r ng, tại phiên tòa Giám định viên đã giải thích rõ r ng, không có căn cứ nghi ngờ bản Kết luận giám định bổ sung l không chính xác, nên Hội đồng xét xử không yêu cầu giám định lại [4] Lời khai của bị cáo phù h p với t i liệu chứng cứ khác đã thu thập đư c trong quá trình điều tra vụ án, đã đư c thẩm tra tại phiên tòa Do đó, có căn cứ xác định: Ng y 02-5-2021, tại vực trước cửa số nh F đường B, phường Đ, th nh phố L, bị cáo Bế Văn M đã đư c cấp giấy phép lái xe mô tô hạng A1, điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, BKS 12D1-122 97 trong tình trạng có sử dụng rư u, bia, hơi thở có nồng độ cồn 0,401mg/ 01 lít khí thở, chở Lê Hồng P1. Quá trình điều khiển xe mô tô, Bế Văn M không giữ khoảng cách an to n với xe chạy liền trước, gây tai nạn đối với xe đạp đi cùng chiều do b Lương Thị D điều khiển Hậu quả cả ba người Bế Văn M, Lê Hồng P1, Lương Thị D bị ngã xuống đường, anh Lê Hồng P1 bị tổn thương cơ thể t lệ 84%, b Lương Thị D bị tổn thương cơ thể t lệ 05%; xe đạp nhãn hiệu VIETHUNG bị hư hỏng trị giá 200 000 đồng; xe mô tô BKS12D1 - 122 97 bị hư hỏng trị giá 500 000 đồng Bị cáo Bế Văn M đã vi phạm quy định tại khoản 8 Điều 8 Luật giao thông đường bộ" Điều 8. Các hành vi bị nghiêm cấm... 8. Điều khiển xe mô tô, xe gắn máy mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc 0,25 miligam/1 lít khí thở".; khoản 1, Điều 12 Luật Giao thông đường bộ, quy định về tốc độ v khoảng cách giữa các xe: "Người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy trên đường và phải giữ một khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước xe của mình" ; khoản 1 Điều 5 thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29-8-2019 của Bộ G quy định về tốc độ để có thể d ng lại một cách an to n khi tham gia giao thông quy định: "Người điều khiển phương tiện khi tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng một cách an toàn trong các trường hợp sau: Có báo hiệu cảnh báo nguy hiểm hoặc chướng ngại vật trên đường"; khoản 1 Điều 35 Luật phòng chống tác hại của rư u, bia năm 2019 "Điều 35. Sửa đổi, bổ sung quy định của một số luật khác. 1. Sửa đổi, bổ sung khoản 8 Điều 8 của Luật Giao thông đường bộ số 23/2008/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 35/2018/QH14 như sau: 8. Điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn".
Với h nh vi trên, việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân th nh phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đối với bị cáo l có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Đủ cơ sở kết luận bị cáo Bế Văn M phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, tội phạm v hình phạt đư c quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự
Bị cáo nhận thức đư c khi tham giao giao thông phải chấp h nh đúng quy định luật giao thông đường bộ, nhưng do sử dụng rư u bia, thiếu quan sát đã gây ra vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng, hậu quả l m 02 người bị thương với tổng t lệ tổn thương cơ thể 89%, xe mô tô, xe đạp bị hư hỏng nhẹ H nh vi phạm tội của bị cáo gây ra l nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự an to n xã hội. H nh vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu t i sản của công dân, gây thiệt hại sức khỏe của người tham gia giao thông
Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự; chưa lần n o bị xử phạt vi phạm h nh chính, xử lý k luật; đư c đánh giá có nhân thân tốt
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi bị cáo gây tai nạn giao thông bị cáo cùng gia đình đã bồi thường to n bộ cho bị hại Lương Thị D; quá trình điều tra vụ án v tại phiên tòa bị cáo th nh khẩn khai báo, ăn năn hối cải về h nh vi phạm tội đã thực hiện, gia đình có công với cách mạng, có ông ngoại, b nội đều đư c tặng thưởng huân chương kháng chiến, nên đư c hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự
Đánh giá các căn cứ quyết định hình phạt như trên thấy cần thiết cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ng a tội phạm
Về hình phạt bổ sung: Do buộc bị cáo phải chấp h nh hình phạt tù có thời hạn, nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung
Về vật chứng vụ án: 01 xe mô tô hiệu Honda vision BKS12D1 - 122 97 số khung 541461, số máy 0621600 v 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Nguyễn Thị L, tại cơ quan điều tra và phiên tòa xác định xe là của bà Nguyễn Thị L, bị cáo tự ý sử dụng xe mô tô để uống rư u bia rồi gây tai nạn giao thông, bà Nguyễn Thị L xin lại xe để có phương tiện đi lại; nên trả lại cho bà Nguyễn Thị L; 01 giấy phép lái xe mang tên Bế Văn M, trả lại cho bị cáo [13] Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại Lương Thị D.
Đối với bị hại Lê Hồng P1: Bị hại yêu cầu bồi thường tổng các khoản thiệt hại với số tiền 251 898 793 đồng, nhưng bị cáo không đồng ý Các bên không thỏa thuận đư c về bồi thường, nên Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật Chấp nhận các khoản bồi thường thiệt hại về sức khỏe của bị hại như sau:
Tiền xe: Thuê xe t nh đến Bệnh viện đa khoa tỉnh L cấp cứu ng y 02-5-2021 l 200 000 đồng; 04 lư t bệnh nhân đi điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh L x 100 000 đồng/lư t = 400 000 đồng; hỗ tr tiền xăng đi lại của người phục vụ t nh đến Bệnh viện 10 000 đồng/ng y x 50 ng y = 500 000đồng Tổng l : 1 100 000 đồng
Tiền viện phí, vật tư, giường (có hóa đơn) tại Bệnh viện đa khoa tỉnh L (phần bệnh nhân tự thanh toán): Ng y 02-5-2021 đến ngày 22-5-2021 là 4 647 714 đồng; ng y 29-6-2021 l 187 200 đồng; ng y 13-7-2021 đến ng y 20-7-2021 l 616 024 đồng; ng y 20-7-2021 đến ng y 17-8-2021 l 4 810 064 đồng Tổng l : 10 260 984 đồng
Tiền thuốc có chỉ định của bác sĩ ng y 20-7-2021 là 2.172 000 đồng
Thu nhập thực tế bị mất của bị hại: Bị hại trước khi bị tai nạn giao thông không có nghề nghiệp ổn định, l lao động tự do Căn cứ Công văn số 580/CTK-KTXH ngày 24-12-2021 cung cấp số liệu ước thu nhập bình quân đầu người/năm tại phường H, th nh phố L l 65,8 triệu đồng/năm; tương ứng 5 483 000 đồng/tháng Chấp nhận bị hại mất thu nhập tính đến khi xét xử sơ thẩm l 11 tháng, số tiền l 11 x 5 483 000 đồng = 60 313 000 đồng
Thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc (lao động tự do): Chấp nhận 01 người chăm sóc t ng y 02-5-2021 đến ng y 17-8-2021 (77 ngày), theo mức kê khai của người chăm sóc 7 000 000 đồng/tháng, trung bình 233 000 đồng/ng y, tổng: 77 ng y x 233 000 đồng/ng y = 17 171 000 đồng
Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần bị hại: 40 lần mức lương cơ sở (mức lương cơ sở tại thời điểm xét xử sơ thẩm l 1 490 000 đồng/lần), tổng: 40 x 1 490 000 đồng = 59 600 000 đồng
Tiền bồi dưỡng sức khỏe bị hại: 6 tháng (180 ngày) x 100.000 đồng/ng y = 18 000 000 đồng
Tổng số tiền các khoản đư c bồi thường l : 168 616 984 đồng
Không chấp nhận khoản tiền ăn uống vì không có quy định đư c bồi thường Không chấp nhận hóa đơn thuốc không có chỉ định bác sĩ, thuốc tự mua theo hóa đơn thường, trên hóa đơn ghi Nh thuốc Minh Đ1 các ngày 25-8-2021 là 1 218 000 đồng, 27-9/-2021 l 1 218 000 đồng, ng y 28-10-2021 là 1.218.000 đồng, ng y 29-11-2021 là 1 218 000 đồng, ng y 26-12-2021 l 1 218 000 đồng, ngày 11-01-2022 l 2 172 000 đồng; 02 hóa đơn bán lẻ không ghi ng y có dấu đỏ hình chữ nhật ghi "Nh thuốc 52B 52 Trần Đăng Ninh" số tiền 2 400 000 đồng trên mỗi hóa đơn, hóa đơn hình thức không đảm bảo quy định
Đối với bà Lương Thị D điều khiển xe đạp có lắp thêm một số thanh gỗ phía sau xe Kết quả kiểm tra, kích thước bên trái xe l 30cm, vư t bề ngo i bên phải l 35cm, thanh gỗ không vư t quá quy định tại khoản 5 Điều 19 Thông tư số 46/2015/TT-BGTVT của Bộ G: “xe thô sơ không được xếp hàng hóa vượt phía trước và phía sau quá 1/3 chiều dài thân xe và không quá 1,0m vượt; không được vượt quá 0,4m về mỗi bên bánh xe”, nên không xem xét xử lý trong vụ án
Ý kiến đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân th nh phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn phù h p với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chỉ đư c chấp nhận các khoản h p lý, có căn cứ
Đề nghị của đại diện bị hại Lê Hồng P1 về mức bồi thường quá cao so với nhận định của Hội đồng xét xử, nên không đư c chấp nhận
Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự người b o chữa đưa ra phù h p nhận định của Hội đồng xét xử, nên đư c chấp nhận
Bị cáo l người bị kết án v phải bồi thường thiệt hại sức khỏe nên phải chịu án phí hình sự v dân sự sơ thẩm để nộp ngân sách nh nước theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ng y 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý v sử dụng án phí v lệ phí Tòa án
Bị cáo, bị hại, người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ v o điểm b khoản 2 Điều 260; Điều 38; Điều 47; Điều 50; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ các Điều 357, 468, 584, 585, 586, 590 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 1, 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý v sử dụng án phí v lệ phí Tòa án
1 Tội danh: Tuyên bố bị cáo Bế Văn M phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
2 Hình phạt: Xử phạt bị cáo Bế Văn M 03 (ba) năm tù Thời hạn tù tính t ng y bị cáo bị tạm giam 07-12-2021.
3 Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm: Buộc bị cáo Bế Văn M phải bồi thường cho bị hại Lê Hồng P1 số tiền 168 616 984đ (một trăm sáu mươi tám triệu sáu trăm mười sáu nghìn chín trăm tám mươi tư đồng)
Kể t ng y Bản án có hiệu lực pháp luật, người đư c thi h nh án có đơn yêu cầu thi h nh án, nếu người phải thi h nh án chậm trả tiền thì phải chịu lãi suất đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 357 v Điều 468 của Bộ luật Dân sự
4 Xử lý vật chứng:
Trả lại cho bà Nguyễn Thị L 01 xe mô tô hiệu Honda vision BKS 12D1 - 122 97 số khung 541461, số máy 0621600 v 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Nguyễn Thị L.
Trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe mang tên Bế Văn M.
(Vật chứng trên đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn, theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 25-3-2022).
5 Án phí: Buộc bị cáo Bế Văn M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200 000đ (hai trăm nghìn đồng) v 8 430 849đ (tám triệu bốn trăm ba mươi nghìn tám trăm bốn mươi chín đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch trong vụ án hình sự nộp ngân sách nh nước
6 Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án, người có quyền l i nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền l i, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ng y, kể t ng y tuyên án; bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ng y, kể t ng y nhận đư c bản án hoặc bản án đư c niêm yết
Trường h p bản án đư c thi h nh theo qui định tại Điều 2 Luật thi h nh án dân sự thì người đư c thi h nh án dân sự, người phải thi h nh án dân sự có quyền thỏa thuận thi h nh án, quyền yêu cầu thi h nh án, tự nguyện thi h nh án hoặc bị cưỡng chế thi h nh án theo qui định tại các Điều 6, 7 v 9 Luật thi h nh án dân sự, thời hiệu thi h nh án đư c thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi h nh án dân sự
| Nơi nhận: - Người tham gia tố tụng; - TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - Sở tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - CQTHAHS Công an tỉnh Lạng Sơn; - VKSND TP Lạng Sơn, T Lạng Sơn; - CA TP Lạng Sơn, T Lạng Sơn (02 bản); - Chi cục THADS TP Lạng Sơn, T Lạng Sơn; - Lưu hồ sơ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hải Ninh |