- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lưu Văn T - Tàng trữ TPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Lưu Văn T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 41/2022/HSST Ngày 12-9-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hoàng Thị Chính
Ông Vũ Văn Lẫy
- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Việt Anh, Thư ký Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Kiến An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Vinh, Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 9 năm 2022, tại điểm cầu trung tâm: Tòa án nhân dân quận Kiến An, Thành phố Hải Phòng; điểm cầu T phần: Trại tạm giam Thành phố Hải Phòng, xét xử sơ thẩm, trực tuyến, công khai vụ án hình sự thụ lý số 39/2022/TLST-HS ngày 24 tháng 8 năm 2022, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 393/2022/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2022, đối với bị cáo:
Lưu Văn T, tên gọi khác: Không; sinh ngày 28/10/1980; giới tính: Nam; nơi sinh: Hải Phòng; đăng ký hộ khẩu thường trú: 4A34 C, phường L, Quận L, Thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Số 37 ngõ 1 đường T, phường K, Quận L, Thành phố Hải Phòng; dân tộc Kinh; quốc tịch Việt Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá 12/12; con ông Lưu Văn T, sinh năm 1956; con bà Trần Thị L, sinh năm 1958; gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Tuyết T, sinh năm 1986 (đã ly hôn); có 01 con là Lưu Hải A, sinh năm 2010. Tiền án, tiền sự, nhân thân: Ngày 20/4/2000, Lưu Văn T bị Tòa án nhân dân thị xã Đồ Sơn xử phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân; bị cáo đã thi hành xong khoản án phí ngày 23/5/2008, đã xóa án tích; ngày 21/9/2015 Lưu Văn T bị Tòa án nhân dân Quận Lê Chân xử phạt 36 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/8/2017 và đã thi hành xong khoản án phí 200.000 đồng vào ngày 25/01/2016, đã xóa án tích; ngày 24/9/2019 Lưu Văn T bị Tòa án nhân dân Quận Lê Chân ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; ngày 29/4/2021 bị cáo được tạm đình chỉ chấp hành biện pháp xử lý hành chính. Ngoài ra ngày 30/3/2022, Lưu Văn T còn có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy tại địa bàn quận Hải An, Thành phố Hải Phòng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hải An đã áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; ngày 28/6/2022 bị Tòa án nhân dân quận Hải An xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 25/5/2022, chuyển tạm giam ngày 31/5/2022 tại Trại tạm giam Công an Thành phố Hải Phòng. (Có mặt).
- Người chứng kiến: Nguyễn Đức Q (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng ma túy, nên trưa ngày 25/5/2022, Lưu Văn T một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 15B2-97277 đi đến khu vực đường tàu Trần Nguyên Hãn, Quận Lê Chân, Thành phố Hải Phòng để tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Tại đây, T gặp và mua 01 túi ma túy đá giá 220.000 đồng của một người đàn ông không quen biết (không xác định được căn cước, lai lịch). T cất giữ túi ma túy đá bằng cách dán băng dính vào tay xách đuôi xe bên phải của xe mô tô và điều khiển xe đi sang quận Kiến An để tìm nơi sử dụng ma túy. Khi đi đến khu vực đường Quán Trữ, tổ Tân Khê, phường Đồng Hòa, quận Kiến An, Thành phố Hải Phòng thì bị Tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận Kiến An phát hiện kiểm tra, bắt quả tang, thu giữ tại vị trí tay xách đuôi xe bên phải của xe mô tô do T đang điều khiển 01 túi nilon kích thước 2x2 cm, mép khóa nhựa màu trắng, mép viền túi màu đỏ chứa tinh thể màu trắng (nghi là ma túy đá). Ngoài ra còn thu giữ của T 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade biển kiểm soát 15B2-97277, 01 điện thoại di động. Sau đó, Tổ công tác đã đưa T cùng vật chứng về trụ sở Công an phường Đồng Hòa lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang.
Tại bản Kết luận giám định số 224/KLGĐ-MT ngày 31/5/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hải Phòng kết luận: Tinh thể màu trắng thu giữ của Lưu Văn T gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,33 gam, là loại Methamphetamine.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Kiến An đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lưu Văn T tại số 37 ngõ 1 đường T, phường K, Quận L, thành phố Hải Phòng không thu giữ được đồ vật, tài liệu gì có liên quan đến vụ án.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Kiến An tiến hành xét nghiệm nhanh chất ma túy đối với Lưu Văn T. Kết quả xét nghiệm: Mẫu nước tiểu của Lưu Văn T dương tính với test thử chất ma túy Methamphetamine.
Quá trình điều tra, Lưu Văn T khai nhận phù hợp với nội dung trên. Ngoài ra, T còn khai nguồn gốc số tiền mua ma túy là do T lao động mà có, điện thoại di động là tài sản cá nhân của T. Nguồn gốc chiếc xe mô tô biển kiểm soát 15B2-97277 là do ngày 24/5/2022 T mượn của anh Đỗ Việt D (sinh năm 1992, nơi cư trú: Số 18/376 T, phường H, Quận L, Hải Phòng), khi mượn T không nói với anh Dũng về việc sử dụng xe để đi mua ma túy. Ngoài ra T khai nhận vào khoảng ngày 22/5/2022, T đã sử dụng ma túy đá một mình và không nhớ được cụ thể thời gian và địa điểm sử dụng ma túy, nguồn gốc số ma túy này do T mua ở khu vực đường tàu Trần Nguyên Hãn, Quận Lê Chân, Hải Phòng, T không nhớ rõ mua từ khi nào.
Ngày 31/5/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Kiến An đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định khởi tố bị can đối với Lưu Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Bản Cáo trạng số 39/CT-VKSKA ngày 24/8/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Kiến An, Hải Phòng truy tố bị cáo Lưu Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Kiến An, Thành phố Hải Phòng vẫn giữ quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lưu Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự để xử phạt Lưu Văn T từ 24 tháng đến 30 tháng tù. Áp dụng Điều 55, Điều 56 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt đối với Bản án số 29/2022/HS-ST, ngày 28/6/2022 của Tòa án nhân dân quận Hải An, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt từ 48 đến 54 tháng tù.Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 249, khoản 2 Điều 35 Bộ luật Hình sự, phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lưu Văn T từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng. Xử lý vật chứng của vụ án: Căn cứ vào Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật Hình sự: Tịch thu, tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, các vỏ bao bì của mẫu vật. Trả lại Lưu Văn T 01 điện thoại oppo màu xanh bạc. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã nêu. Bị cáo thống nhất với quan điểm luận tội của Viện Kiểm sát, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là trái pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để được sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
- Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Kiến An Thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An Thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiền hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh:
[ 2 ] Tại phiên tòa, bị cáo Lưu Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận: Lưu Văn T có hành vi cất giữ trái phép 0.33 gam ma túy, loại Methamphetamine mục đích để sử dụng cho bản thân, không nhằm mục đích bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy. Hành vi của Lưu Văn T đã vi phạm Điều 249 Bộ luật Hình sự, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy". Với việc cất giữ trái phép 0.33 gam ma túy, loại Methamphetamine, Lưu Văn T đã vi phạm điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Như vậy, Viện Kiểm sát nhân dân quận Kiến An đã truy tố Lưu Văn T ra trước Toà án nhân dân quận Kiến An để xét xử về tội danh theo điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Việc áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự để xử phạt Lưu Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với một mức án nghiêm khắc và cần thiết tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
- Đánh giá tính chất của vụ án, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nó trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, với những quy định nghiêm ngặt bởi chất ma túy là chất gây nghiện nguy hiểm; vi phạm quy định về quản lý chất ma túy không chỉ gây khó khăn cho việc kiểm soát chất ma túy của Nhà nước mà còn tạo ra lớp người nghiện, qua đó đe dọa nghiêm trọng đến an toàn xã hội, trật tự công cộng, sức khỏe và sự phát triển bình thường của giống nòi Việt Nam và đây cũng là nguồn gốc phát sinh những loại tội pháp khác. Vì vậy pháp luật yêu cầu phải xử lý nghiêm để cải tạo, giáo dục bị cáo và đáp ứng yêu cầu phòng ngừa chung.
- Xem xét các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Lưu Văn T:
Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lưu Văn T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có 2 tiền án mặc dù đã được xóa án tích và một lần bị áp dụng xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đang tạm đình chỉ, nhưng có thể đánh giá bị cáo có nhân thân xấu; Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Hải An đã ra quyết định khởi tố bị can đối với Lưu Văn T về tội tàng trữ tái phép chất ma túy, đang trong giai đoạn điều tra và áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo T lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội tại địa bàn quận Kiến An, chứng tỏ bị cáo coi thường pháp luật, ý thức chấp hành pháp luật kém.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lưu Văn T được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình là T khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:“Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng...”. Cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Lưu Văn T để thể hiện rõ sự nghiêm minh của pháp luật.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho T tại khu vực đường tàu Trần Nguyên Hãn vào ngày 25/5/2022, do T khai không biết họ tên, địa chỉ và Cơ quan Cảnh sát điều tra không thu thập được tài liệu, chứng cứ khác nên tiếp tục điều tra, làm rõ.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lưu Văn T vào ngày 22/5/2022, do T khai không nhớ rõ thời gian, địa điểm sử dụng ma túy cụ thể nên không có cơ sở để xử lý.
- Vật chứng của vụ án:
Vật chứng của vụ án gồm: Số ma túy còn lại sau giám định và các vỏ bao bì của mẫu vật, 01 điện thoại oppo màu xanh bạc, 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade biển kiểm soát 15B2-97.277
Đối với số ma túy còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với các vỏ bao bì của mẫu vật là dụng cụ cất giữ ma túy không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại oppo màu xanh bạc không liên quan đến vụ án trả lại cho Lưu Văn T.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade biển kiểm soát 15B2-97.277 thu giữ của T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Kiến An xác định chủ sở hữu là anh Đỗ Việt Dũng (sinh năm 1992, cư trú: số 18/376 Tô Hiệu, phường Hồ Nam, Quận Lê Chân, Hải Phòng). Dũng không biết và không liên quan đến việc T mua ma túy sử dụng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Kiến An đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả tài sản cho anh Đỗ Việt Dũng.
- Về án phí:
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo Lưu Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 khoản 5 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 55, Điều 56 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lưu Văn T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Bản án số 29/2022/HS-ST, ngày 28/6/2022, Tòa án nhân dân quận Hải An xử phạt Lưu Văn T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Tổng hợp hình phạt với bản án số 29/2022/HS-ST, ngày 28/6/2022 của Tòa án nhân dân quận Hải An, hình phạt chung của hai bản án Lưu Văn T phải thi hành là 48 (Bốn mươi tám) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 25/5/2022, trừ cho bị cáo 04 ngày tạm giữ (Từ ngày 31/3/2022 đến ngày 04/4/2022) theo lệnh tạm giữ của Công an quận Hải An, Thành phố Hải Phòng.
Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Lưu Văn T 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) để sung vào ngân sách nhà nước.
Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật Hình sự: Trả lại Lưu Văn T 01 điện thoại oppo màu xanh bạc nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Tịch thu, tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, các vỏ bao bì của mẫu vật. Theo Biên bản giao nhận vật chứng tại Chi cục thi hành án dân sự quận Kiến An, Thành phố Hải Phòng.
Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo Lưu Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo Lưu Văn T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND TP Hải Phòng;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND TP Hải Phòng;
- VKSND quận Kiến An;
- Công an quận Kiến An;
- Thi hành án quận Kiến An; Sở tư pháp;
- Chi cục THADS quận Kiến An;
- Bị cáo;
- Những người tham gia tố tụng khác;
- Lưu: HS; HCTP.
Nguyễn Thị Lan Hương
| Nơi nhận: - TAND TP Hải Phòng; - VKSND TP Hải Phòng; - VKSND quận Kiến An; - Công an quận Kiến An; - Thi hành án quận Kiến An; Sở tư pháp; - Chi cục THADS quận Kiến An; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng khác; - Lưu: HS; HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Lan Hương |