- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lù A C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Lù A C 16 (Mười sáu) tháng tù.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MS TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2022/HSST Ngày 05 tháng 4 năm 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MS, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Tráng A Tếnh
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Bùi Nguyên Hồng
2. Ông Cầm Văn Tổ
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Lường Thị Vân Anh - Thư ký Toà án nhân dân huyện MS, tỉnh Sơn La
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện MS tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Quỳnh Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 4 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện MS, tỉnh Sơn La. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 39/2022/TLST-HS ngày 26 tháng 01 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2022/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 02 năm 2022 và các quyết định hoãn phiên tòa đối với bị cáo:
Lù A C, sinh ngày 15 tháng 12 năm 1968 tại huyện MS, tỉnh Sơn La. Nơi ĐKHKTT: Bản LC, xã NO, huyện MS, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 10/12; Dân tộc: Mông; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không. Con ông Lù A D sinh năm 1942 và bà Vàng Thị C sinh năm 1948. Bị cáo có vợ Sồng Thị D, sinh năm 1972, trú tại bản LC, xã NO, huyện MS, tỉnh Sơn La. Bị cáo có 06 con, con lớn nhất sinh năm 1990 và con nhỏ nhất sinh năm 2008.
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/10/2021 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Trần Bích Liên - Luật sư cộng tác viên thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Sơn La. Địa chỉ: Ngõ 7A, tổ 8, phường Chiềng Lề, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 19/10/2021 Lù A C mang theo 200.000VNĐ đi bộ từ nhà ở bản LC, xã NO, huyện MS, tỉnh Sơn La đến khu vực bản TC, xã PC, MS, Sơn La để tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây, C gặp và mua được 03 viên hồng phiến được gói trong 01 gói nilon màu trắng và heroine được gói trong một gói nilon màu xanh của một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ đang đứng ở ngoài đường. C cất hai gói ma túy vào túi áo ngực phía trước bên trái đang mặc rồi đi bộ về đến địa phận bản LC, xã NO thì bị Tổ Công tác công an xã PP phối hợp với Công an xã NO bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng nêu trên.
Khối lượng 03 viên nén màu hồng thu giữ của Lù A C là 0,26 gam lấy toàn bộ làm mẫu giám định ký hiệu M1, khối lượng Heroine là 0,11 gam lấy toàn bộ làm mẫu giám định ký hiệu M2.
Kết luận số 1679 ngày 20/10/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu M1 là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,26 gam. Mẫu gửi giám định M2 là ma túy, loại Heroine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,11 gam.
Tại bản Cáo trạng số: 12/CT-VKSMS ngày 26/01/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện MS truy tố bị cáo Lù A C về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lù A C từ 13 đến 16 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu hủy vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, các mảnh nilon màu trắng, xanh gói ma túy ban đầu được niêm phong trong một phong bì do Công an huyện MS phát hành.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo nhất trí với luận tội của Viện kiểm sát đề nghị xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa: Nhất trí với truy tố của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện MS đối với bị cáo Lù A C về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự do bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo có nhân thân tốt phạm tội lần đầu, là người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện đặc biệt khó khăn có nhận thức hạn chế về pháp luật nên đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đề nghị không áp dụng phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo và miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét mức hình phạt đối với bị cáo Lù A C từ 12 đến 16 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thực hiện đường lối tố tụng trong vụ án: Xét thấy việc khởi tố, truy tố, xét xử của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án nhân dân huyện MS đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng trong vụ án đối với bị cáo theo đúng quy định của pháp luật.
Về đường lối giải quyết vụ án:
Căn cứ biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang do Tổ công tác Công an xã PP phối hợp với Công an xã NO, huyện MS lập vào hồi 11 giờ 50 phút ngày 19/10/2021 đối với bị cáo Lù A C cùng toàn bộ vật chứng gồm: 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa 03 viên hồng phiến có khối lượng 0,26 gam và 01 túi nilon màu xanh bên trong chứa 0,11 gam Heroine, bị cáo thừa nhận là chất ma túy.
Tại bản kết luận giám định số 1679 ngày 20/10/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận:
- M u gửi giám định ký hiệu M1 là ma túy; Loại Methamphetamine; Khối
lượng của m u gửi giám định là 0,26 gam.
- M u gửi giám định ký hiệu M2 là ma túy; Loại Heroine; Khối lượng của
m u gửi giám định là 0,11 gam.
Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,26 gam loại Methamphetamine và 0,11
gam Heroine.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa thừa nhận do bản thân nghiện ma túy, nên đã mang theo 200.000đ đi mua được 02 gói ma túy của một người đàn ông không biết tên tuổi với mục đích để sử dụng cho bản thân là hoàn toàn phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ căn cứ kết luận bị cáo Lù A C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, có khung hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng.
Xét tính chất vụ án: Bị cáo biết rõ chất ma túy là loại hàng Nhà nước nghiêm cấm mua bán, tàng trữ và sử dụng trên thị trường, nhưng bị cáo vẫn cố tình mua ma túy cất giữ trên người với mục đích sử dụng cho bản thân là hành vi rất nguy hiểm cho xã hội, cần lên mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.
Về đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Đề nghị về mức hình phạt chính đối với bị cáo là từ 13 đến 16 tháng tù, không áp dụng phạt bổ sung và xử lý vật chứng của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp và đúng quy định của pháp luật.
Về đề nghị của người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa: Ngoài đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, Người bào chữa đề nghị áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự do bị cáo có nhân thân tốt phạm tội lần đầu, là người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện đặc biệt khó khăn nên có hạn chế về nhận thức là không có căn cứ chấp nhận vì bị cáo có trình độ học vấn 10/12, có đủ nhận thức về tác hại của ma túy và tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện.
Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phần nào đối với bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Qua điều tra xác minh bị cáo không có tài sản riêng có giá trị, cần miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ trong vụ án, bị cáo khai mua của một người đàn ông (không biết tên, địa chỉ) tại bản TC, xã PC, MS, Sơn La. Việc mua bán trao đổi giữa hai bên không có người biết, chứng kiến. Ngoài lời khai của bị cáo, Cơ quan điều tra không có tài liệu, chứng cứ khác để điều tra, xác minh mở rộng vụ án. Buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm độc lập về toàn bộ khối lượng Methamphetamine thu giữ trong vụ án là 0,26 gam Methamphetamine và 0,11 gam Heroine.
Vật chứng vụ án:
Đối với vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, mảnh nilon màu trắng, màu xanh gói ma túy ban đầu được niêm phong trong một phong bì do Công an huyện MS phát hành là vật không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
Án phí: Bị cáo Lù A C là dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu, vùng xa, thuộc xã vùng III, cần áp dụng điểm đ khoản 1 điều 12 của nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30 tháng 04 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội để miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lù A C.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Tuyên bố bị cáo Lù A C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Lù A C 16 (Mười sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19 tháng 10 năm 2021.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lù A C.
2. Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, mảnh nilon màu trắng, màu xanh gói ma túy ban đầu được niêm phong trong một phong bì thư do Công an huyện MS phát hành.
3. Án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lù A C.
Báo cho bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND huyện MS, tỉnh Sơn La; - THADS huyện MS, tỉnh Sơn La; - Công an huyện MS, tỉnh Sơn La; - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - Bị cáo; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Tráng A Tếnh |