- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyên Ngàn P và đồng bon - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Ngàn P, Nguyễn Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; các bị cáo Nguyễn Ngàn P, Nguyễn Ngọc T, Trần Thiện T1phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆNHÀM TÂN TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2022/HS-ST Ngày: 09/8/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆNHÀM TÂN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hữu Tình;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Huân và bà Nguyễn Thị Tơ;
Thư ký phiên tòa: Ông Phan Vĩnh Nguyên - Thư ký Tòa án nhân dân HuyệnHàm Tân;
Đại diện viện kiểm sát nhân dân HuyệnHàm Tân tham gia phiên tòa: Ông Nông Ngọc Tuất - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân HuyệnHàm Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 31/2022/TLST-HS ngày 08 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2022/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2022 và Thông báo về việc thay đổi thời gian mở lại phiên tòa số 04/TB-TA ngày 18 tháng 7 năm 2022, đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Ngàn P, (Tên gọi khác:Không). Sinh năm 1990 tại Bình Thuận; Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Thôn Đá Mài 2, xã T, HuyệnH, tỉnh B; nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công Giáo; quốc tịch: Việt Nam; con bà Nguyễn Thị Hồng K (chết) (không xác định được bố đẻ); có vợ là Nguyễn Trần Thúy V (đã ly hôn) và 01 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt ngày 20/6/2021, hiện đang bị tạm giam tại Nhà Tạm giữ Công an HuyệnHàm Tân, có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn Ngọc T (tên gọi khác: Thui). Sinh năm 1995, tại Bình Thuận. nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: thôn 2, xã T, HuyệnH, tỉnh B; nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con bà Nguyễn Thị N (không xác định được bố đẻ); tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 29/4/2011, bị Ủy ban nhân dân HuyệnHàm Tân đưa vào trường Giáo dưỡng 24 tháng về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo Quyết định số 117/QĐ-UBND ngày 29/4/2011 của Ủy ban nhân dân HuyệnHàm Tân (chấp hành xong ngày 20/6/2013). Bị cáo bị bắt ngày 20/6/2021, hiện đang bị tạm giam tại Nhà Tạm giữ Công an HuyệnHàm Tân, có mặt tại phiên tòa.
3. Trần Thiện T1(tên gọi khác: T1Be). Sinh năm 1993, tại Bình Thuận; nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: thôn 2, xã T, HuyệnH, tỉnh B; nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công Giáo; quốc tịch: Việt Nam; con bà Trần Thị Thu H (không xác định được bố đẻ); có vợ là Lầu Thị Hồng L và 03 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt ngày 06/12/2021, hiện đang bị tạm giam tại Nhà Tạm giữ Công an HuyệnHàm Tân, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn Bến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào sáng ngày 20/6/2021, Nguyễn Ngàn P đến nhà của Trần Thiện T1; lúc này, trong nhà T1đang có mặt Trần Thiện T1, Nguyễn Ngọc T, M, Trần Quốc C. Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên P đã kêu mọi người gom tiền để mua ma túy về sử dụng nhưng không ai có tiền nên T1gọi Lê Chí M (nhà ở khu vực xã Tân Phước, thị xã Lagi) đang ở nhà của mẹ ruột T1(ngay sát bên cạnh ) đi qua nhà T1. T1 hỏi mua ma túy của M thì M đưa 01 gói nylon có chứa ma túy cho P và P đã trả cho M 200.000 đồng; sau đó, P rủ M cùng lên phòng khách nhà T1cùng sử dụng hết số ma túy trên.
Khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, Văn Ngọc B, Nguyễn Dư H, Nguyễn Văn T và Đoàn Tuấn H cùng đến nhà T1chơi; thấy vậy, P đưa cho Nguyễn Ngọc T số tiền 500.000 đồng nhờ T đi Lagi mua ma túy về sử dụng. T nhận lấy tiền rồi sử dụng xe máy chạy đến khu vực chợ Bình An, thị xã Lagi gặp một người phụ nữ tên Bé Linh (không rõ nhân thân, lai lịch) mua 01 gói ma túy với giá 500.000 đồng mang về đưa cho P; P nhận gói ma túy rồi đổ ra một ít vào nỏ để cùng tất các đối tượng đang có mặt tại nhà T1sử dụng. Số ma túy còn thì P bỏ trong gói nylon, hàn kín rồi để ở dưới điện thoại của P trên nền nhà. Sau đó, P lại liên hệ M mua thêm 01 gói ma túy với giá 1.000.000 đồng nhưng không có tiền nên M cho P thiếu và M đưa gói ma túy cho P.
Khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày, Công an huyện Hàm Tân phối hợp với Công an xã Tân Xuân và Công an xã Tân Hà vào nhà Trần Thiện T1 kiểm tra hành chính thì P bỏ chạy ra phía sau nhà. Thấy Công an đuổi theo nên P chạy vào nhà vệ sinh ném gói ma túy mà M vừa đưa vào bồn cầu, định xả nước để phi tang thì bị Công an bắt giữ.
Qua kiểm tra phát hiện trên nền đất nhà bên dưới điện thoại di dộng của Nguyễn Ngàn P có 01 gói nylon được hàn kín có chứa chất dạng tinh thể rắn màu trắng; nhiều bộ dụng cụ sử dụng ma túy phát hiện bên trên bồn cầu trong nhà vệ sinh nơi P lẩn trốn có 01 gói nylon có chứa chất dạng tinh thể rắn màu trắng nên đã lập Bên bản phạm tội quả tang thu giữ các tang vật gồm: 01 gói nylon được hàn kín có kích (0,8 x 3,5)cm bên trong có chứa chất dạng tinh thể rắn màu trắng; 01 gói nylon có khóa nhíp (04 x 06)cm bên trong có chứa chất dạng tinh thể rắn màu trắng; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 bình nhựa cao 17cm, có nắp đỏ, gắn một đoạn ống nhựa màu vàng và 01 đoạn ống thủy tinh có đầu hình cầu; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 bình nhựa cao 17cm, có nắp đỏ, gắn một đoạn ống nhựa màu xanh và 01 đoạn ống thủy tinh có đầu hình cầu; 01 bộ dụng cụ khò lửa bao gốm 01 bình gas hiệu IKURA gắn với 01 đầu khò dài khoảng 17cm; 01 cây kéo bằng kim loại dài khoảng 08cm; 02 đoạn ống hút nhựa bên trong không chứa gì. Quá trình điều tra, Nguyễn Ngàn P, Nguyễn Ngọc T và Trần Thiện T1đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình
Tại bản kết luận giám định số 758/KLGĐMT-PC09 ngày 14/6/2021 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bình Thuận xác định: 01 gói nylon có khóa nhíp chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M1) có khối lượng 1,6704 gam là Methamphetamine và 01 gói nylon được hàn kín chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M2) có khối lượng 0,1720 gam là Methamphetamine.
Vật chứng của vụ án: 01 phong bì được niêm phong số 812, có chữ ký của giám định viên Đinh Trung Hiếu và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận bên trong có: 01 gói nylon có kích thước (0,8 x 3,5)cm, 01 gói nylon có kích thước (04 x 06)cm và 1,2979 gam mẫu M1 còn lại sau giám định (mẫu M2 trong quá trình giám định đã sử dụng hết); 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 bình nhựa cao 17cm, có nắp đỏ, gắn một đoạn ống nhựa màu vàng và 01 đoạn ống thủy tinh có đầu hình cầu; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 bình nhựa cao 17cm, có nắp đỏ, gắn một đoạn ống nhựa màu xanh và 01 đoạn ống thủy tinh có đầu hình cầu (đã bị vỡ); 01 bộ dụng cụ khò lửa bao gốm 01 bình gas hiệu IKURA gắn với 01 đầu khò dài khoảng 17cm; 01 cây kéo bằng kim loại dài khoảng 08cm; 02 đoạn ống hút nhựa bên trong không chứa gì (cụ thể 01 đoạn có kích thước (0,5 x 6,5)cm một đầu được hàn kín, một đầu bị cắt nhọn và 01đoạn có kích thước (0,5 x 02)cm được hàn kín hai đầu) hiện đang được Chi cục thi hành án quản lý theo Bên bản giao, nhận vật chứng ngày 19/7/2022.
Tại bản cáo trạng số 32/CT-VKS ngày 30 tháng 5 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân HuyệnHàm Tân, tỉnh Bình Thuận đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngàn P và bị cáo Nguyễn Ngọc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 và điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Trần Thiện T1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Ngàn P, Nguyễn Ngọc T, Trần Thiện T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và thống nhất với các điều khoản mà Viện kiểm sát nhân dân HuyệnHàm Tân đã viện dẫn trong Cáo trạng.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân HuyệnHàm Tân, tỉnh Bình Thuận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Nguyễn Ngàn P, Nguyễn Ngọc T, Trần Thiện T1; đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 249 và điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 55 Bộ luật hình sự.
+ Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngàn P từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; từ 07 năm đến 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
+ Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; từ 07 năm đến 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
- Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Trần Thiện T1từ 07 năm đến 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử lý vật chứng theo quy định của pháp luât.
Tại lời nói sau cùng, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan tiến hành tố tụng và Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến, hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và Người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Ngàn P, Nguyễn Ngọc T, Trần Thiện T1 thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu; lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Methamphetamine là chất gây nghiện đã được ghi nhận trong danh mục các chất ma túy do Chính phủ ban hành. Ma túy gây tác hại rất lớn và ảnh hưởng rất xấu đến sức khỏe của con người, là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và tội phạm; vì vậy, việc tàng trữ trái phép các chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm và xã hội lên án gay gắt. Nhưng do nghiện ma túy nên khoảng 13 giờ 30 phút ngày 20/6/2021, tại nhà Trần Thiện T1 thuộc thôn 2, xã T, HuyệnH, tỉnh B, Nguyễn Ngàn P đã vi tàng trữ 02 gói ma túy có tổng khối lượng 1,8424 gam là Methamphetamine. Hành vi tàng trữ 1,8424 gam Methamphetamine của bị cáo Nguyễn Ngàn P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Trong 02 gói ma túy mà bị cáo Nguyễn Ngàn P tàng trữ thì bị cáo Nguyễn Ngọc T đã nhận số tiền 500.000 đồng từ bị cáo P rồi trực tiếp đi mua 01 gói ma túy có khối lượng 0,1720 gam là Methamphetamine nên bị cáo T cũng pH chịu trách nhiệm hình sự về hành vi tàng trữ gói ma túy trên cùng với bị cáo P.
Sau khi mua gói ma túy (do bị cáo Nguyễn Ngàn P đưa 500.000đồng), bị cáo Nguyễn Ngọc T đưa về nhà bị cáoTrần Thiện T1; tại đây, T1 đã cho mượn nhà mình làm địa điểm và cung cấp dụng cụ sử dụng ma túy rồi cùng với bị cáo P, bị cáo T và các đối tượng khác gồm M, Nguyễn Văn T, Đoàn Tuấn H, Văn Ngọc B, Trần Quốc C, Nguyễn Dư H sử dụng. Hành vị này của các bị cáo Nguyễn Ngàn P, Nguyễn Ngọc T, Trần Thiện T1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 225 Bộ luật hình sự. Do các bị cáo Nguyễn Ngàn P, Nguyễn Ngọc T, Trần Thiện T1đã tổ chức cho nhiều người cùng sử dụng ma túy nên các bị cáo P, T, T1 phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân HuyệnHàm Tân truy tố các bị cáo Nguyễn Ngàn P, Nguyễn Ngọc T, Trần Thiện T1với các tội danh và điều khoản nêu trên là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực ma túy, tạo điều kiện cho tệ nạn xã hội phát triển mà còn gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa P; vì vậy, cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Ngàn P, Nguyễn Ngọc T, Trần Thiện T1 thành khẩn khai báo và tỏ ra Bết ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về vật chứng vụ án: 01 phong bì được niêm phong số 812, có chữ ký của giám định viên Đinh Trung Hiếu và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận bên trong có: 01 gói nylon có kích thước (0,8 x 3,5)cm, 01 gói nylon có kích thước (04 x 06)cm và 1,2979 gam mẫu M1 còn lại sau giám định (mẫu M2 trong quá trình giám định đã sử dụng hết); 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 bình nhựa cao 17cm, có nắp đỏ, gắn một đoạn ống nhựa màu vàng và 01 đoạn ống thủy tinh có đầu hình cầu; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 bình nhựa cao 17cm, có nắp đỏ, gắn một đoạn ống nhựa màu xanh và 01 đoạn ống thủy tinh có đầu hình cầu (đã bị vỡ); 01 bộ dụng cụ khò lửa bao gốm 01 bình gas hiệu IKURA gắn với 01 đầu khò dài khoảng 17cm; 01 cây kéo bằng kim loại dài khoảng 08cm; 02 đoạn ống hút nhựa bên trong không chứa gì (cụ thể 01 đoạn có kích thước (0,5 x 6,5)cm một đầu được hàn kín, một đầu bị cắt nhọn và 01đoạn có kích thước (0,5 x 02)cm được hàn kín hai đầu) là những vật Nhà nước cấm tàng trữ và không có giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với đối tượng Lê Chí M (theo lời khai của Nguyễn Ngàn P và Trần Thiện T1), qua xác minh thì M có hộ khẩu tại tổ 15, thôn Phước Tiến, xã Tân Phước, thị xã La Gi; tuy nhiên, hiện M không có mặt tại địa P, đi đâu, làm gì không rõ; đối tượng Bé Linh (theo lời khai của Nguyễn Ngọc T) hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch. Cả hai đối tượng này, Cơ quan CSĐT Công an HuyệnHàm Tân đang tiếp tục điều tra làm rõ để xử lý xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xét trong vụ án này.
Về án phí, các bị cáo phải nộp án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Ngàn P, Nguyễn Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; các bị cáo Nguyễn Ngàn P, Nguyễn Ngọc T, Trần Thiện T1phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
- Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55 Bộ luật hình sự.
Xứ phạt bị cáo Nguyễn Ngàn P 01(một) năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 07 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của 02 tội, buộc bị cáo Nguyễn Ngàn P phải chấp hành hình phạt chung là 08 (tám) năm 06 tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày 20/6/2021
Xứ phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 07 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của 02 tội, buộc bị cáo Nguyễn Ngọc T phải chấp hành hình phạt chung là 08 năm tù, thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày 20/6/2021.
- Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51Bộ luật hình sự.
Xứ phạt bị cáo Trần Thiện T107 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” , thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày 06/12/2021
- Căn cứ: Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì được niêm phong số 812, có chữ ký của giám định viên Đinh Trung Hiếu và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 bình nhựa cao 17cm, có nắp đỏ, gắn một đoạn ống nhựa màu vàng và 01 đoạn ống thủy tinh có đầu hình cầu; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 bình nhựa cao 17cm, có nắp đỏ, gắn một đoạn ống nhựa màu xanh và 01 đoạn ống thủy tinh có đầu hình cầu (đã bị vỡ); 01 bộ dụng cụ khò lửa bao gốm 01 bình gas hiệu IKURA gắn với 01 đầu khò dài khoảng 17cm (đã qua sử dụng); 01 cây kéo bằng kim loại dài khoảng 08cm; 02 đoạn ống hút nhựa bên trong không chứa gì (cụ thể 01 đoạn có kích thước (0,5 x 6,5)cm một đầu được hàn kín, một đầu bị cắt nhọn và 01đoạn có kích thước (0,5 x 02)cm được hàn kín hai đầu) theo Bên bản giao, nhận vật chứng ngày 19/7/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an HuyệnHàm Tân và Chi cục Thi hành án dân sự HuyệnHàm Tân.
- Căn cứ: Khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Các bị cáo mỗi người phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai, báo cho các bị cáo Bết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. * Nơi nhận:
| -VKSND tỉnh; - VKSND, CA HuyệnHàm Tân; - Cơ quan THAHS tỉnh Bình Thuận - Nhà tạm giữ CA HuyệnHàm Tân - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ; - Chi cục THADS Hàm Tân; - UBND địa P bị cáo cư trú | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Hữu Tình |