- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Văn B - Tàng trữ TPMT. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÝ NHÂN TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2022/HS-ST Ngày: 09 - 9 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÝ NHÂN, TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Đinh Văn An.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Hoa và bà Vũ Thị Hiên.
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Nhật Trung - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 45/2022/TLST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2022 (Sau đây viết tắt là: 23/8/2022) theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2022/QĐXXST-HS ngày 30/8/2022, đối với bị cáo:
Phan Văn B, sinh năm 1980 tại tỉnh Hà Nam; nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn V và bà Nguyễn Thị B (đều đã chết); vợ: Nguyễn Thị T và 02 con (lớn sinh năm 2001, nhỏ sinh năm 2004); Tiền án: Ngày 14/01/2019 Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Hà Nam xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 13/02/2009 Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 04/9/2014 Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Hà Nam xử phạt 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/6/2022 và chuyển tạm giam từ ngày 28/6/2022 đến nay; có mặt.
- Người tham gia tố tụng khác:
+ Người làm chứng: Anh Phạm Hồng T; vắng mặt.
+ Người chứng kiến: Ông Trần Tân T; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 15h20’ ngày 19/6/2022, tại khu vực thôn V, xã C, huyện L, tỉnh Hà Nam, Công an xã C đang làm nhiệm vụ thì phát hiện Phan Văn B đang đi bộ có biểu hiện nghi vấn nên đã yêu cầu kiểm tra. Qúa trình kiểm tra phát hiện, thu giữ: Trong lòng bàn tay phải của Phan Văn B đang cầm 01 gói giấy bạc màu trắng, mở ra bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng (được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT), B khai là ma túy mua về để sử dụng cá nhân.
* Khám xét khẩn cấp nơi ở của Phan Văn B: Không thu giữ được tài sản, đồ vật gì liên quan đến vụ án.
* Tại Kết luận giám định số: 300/KL-KTHS ngày 23/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam kết luận: “Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,181g, loại Heroine (Không phảy một trăm tám mươi mốt gam) loại: Heroine”.
* Phan Văn B khai về nguồn gốc số Heroine thu giữ: Khoảng 14h ngày 19/6/2022, B đi bộ từ nhà rồi đi nhờ xe máy của một người đi đường đến khu vực cổng chợ Lương thuộc thị xã D để mua 01 gói ma túy, loại Heroine với giá là 200.000 đồng của một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch). Sau đó, B cầm gói ma túy trong lòng bàn tay phải rồi đi nhờ xe của nguời đi đường và đi bộ đến khu vực bãi tha ma Ma Lao gần cầu Hưng Hà thuộc địa phận xã C, huyện L thì bị Công an xã C bắt quả tang.
* Về vật chứng: Vật chứng đã thu giữ đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lý Nhân.
Tại bản cáo trạng số 45/CT-VKSLN ngày 22/8/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam đã truy tố Phan Văn B về tội “Tàng trữ tráiphépchấtmatuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
* Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như bản cáo trạng đã nêu. Sau khi phân tích, đánh giá toàn diện vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử (Sau đây viết tắt là: HĐXX): Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt Phan Văn B từ 30 đến 36 tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung, đồng thời đề xuất hướng xử lý vật chứng hiện đang thu giữ.
- Bị cáo Phan Văn B đã thừa nhận và khai báo toàn bộ diễn biến hành vi tàng trữ trái phép Heroin vào chiều ngày 19/6/2022 đúng như nội dung bản cáo trạng đã mô tả và không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì. Bị cáo không có ý kiến gì đối với các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, kết luận giám định và lời khai của người tham gia tố tụngkhác,bị cáođề nghị HĐXX xem xétgiảm nhẹhìnhphạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Đều thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục và căn cứ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều không có ý kiến hoặc khiếu nại gì đối với các hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong các giai đoạn tố tụng đã thực hiện và ban hành đều hợp pháp, tuân thủ các nguyên tắc tố tụng cũng như đảm bảo việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm được giao theo quy định.
Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với diễn biến hành vi mà bị cáo đã thực hiện được ghi nhận tại biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định về ma túy, cũng như chính lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, ngoài ra còn phù hợp với lời khai của người tham gia tố tụng khác cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập theo trình tự luật định, phản ánh đúng sự thật khách quan của vụ án.
Như vậy, có đủ cơ sở pháp lý kết luận: Hồi 15h20’ ngày 19/6/2022, tại khu vực thôn V, xã C, huyện L, tỉnh Hà Nam, Phan Văn B đang có hành vi cất giữ trái phép 01 gói ma túy có khối lượng 0,181 (Không phẩy một trăm tám mươi mốt) gam, loại Heroine mục đích để sử dụng thì bị Công an xã C phát hiện, bắt quả tang.
Hành vi nêu trên của Phan Văn B đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự (Sau đây viết tắt là: BLHS).
Quan điểm kết tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam đối với bị cáo đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về hình phạt: Hành vi phạm tội của Phan Văn B là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với chất ma tuý, gây mất trật tự trị an trên địa bàn và tạo điều kiện cho những phần tử xấu lợi dụng thị trường để mua bán, tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, từ đó gây ra nhiều tội phạm nguy hiểm khác trong cộng đồng . Bản thân bị cáo là người đã có gia đình ổn định, nhưng lại thiếu ý thức trong rèn luyện, thường xuyên thể hiện lốisốngtự do, buôngthảnênđãsớm savàonghiện ngập ma túy, dẫnđếnphạm tội.
- Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân rất xấu, từ năm 2009 đến năm 2019 bị cáo đã 03 lần bị kết án về các tội Trộm cắp tài sản (năm 2009, 2019) và Tàng trữ trái phép chất ma túy (năm 2014), mới mãn hạn tù trở về địa phương, vẫn không chịu hoàn lương, sống có trách nhiệm với gia đình, tiếp tục lao vào nghiện ngập ma túy và ngày càng lún sâu vào con đường phạm tội.
- Về tình tiết tăng nặng: Năm 2019 bị cáo đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích, nay tiếp tục phạm tội do cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng là “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình giải quyết vụ án Phan Văn B đều thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của bản thân; bị cáo có trình độ văn hóa thấp (01/12) nên nhận thức pháp luật hạn chế; lượng ma túy bị cáo tàng trữ trong vụ án không đáng kể (0,181gam), nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cũng như xét yếu tố nhân thân của bị cáo, HĐXX thấy cần thiết phải xử lý nghiêm minh, áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc đối với bị cáo mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân lương thiện, cũng như đáp ứng công tác phòng ngừa tội phạm về ma túy trong tình hình hiện nay tại địa phương.Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cân nhắc đến các tình tiết giảm nhẹ đã nêu để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo sớm tái hòa nhập cộng đồng, cũng như thể hiện được tính nhân đạo của Nhà nước đối với người phạm tội.
Xét thấy cần tiếp tục tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo thi hành án hình sự, nên Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án theo Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự .
Về hình phạt bổ sung: Xét mục đích phạm tội của bị cáo không để thu lợi bất chính nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung (là phạt tiền) đối với bị cáo theo quy định tại Điều 35 và khoản 5 Điều 249 BLHS.
Về xử lý vật chứng của vụ án: Số Heroine thu giữ của bị cáo cùng bao gói, Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam hoàn trả sau giám định, là chất Nhà nước cấm lưu hành, nên tịch thu và tiêu huỷ.
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định pháp luật.
Quyền kháng cáo: Bị cáo được thực hiện theo quy định của pháp luật.
Về vấn đề khác: Trong vụ án này, Phan Văn B khai đã mua ma túy của một người đàn ông ở khu vực chợ Lương thuộc địa phận thị xã D vào ngày 19/6/2022 nhưng không rõ nhân thân, lai lịch. Ngoài lời khai duy nhất của bị cáo, không có thông tin, tài liệu gì khác nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, xử lý theo pháp luật, do đó HĐXX không đề cập.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS.
Tuyênbố: Bị cáo Phan Văn B phạm tội“Tàngtrữtráiphépchất matuý”.
Xử phạt: Bị cáo Phan Văn B 33 (Ba mươi ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/6/2022.
[2] Áp dụng Điều 47 BLHS và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu và tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 300/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam, ghi: “Mẫu vật hoàn trả QT”.
(Vật chứng nêu trên có đặc điểm, tình trạng, số hiệu được ghi trong biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 22/8/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Lý Nhân và Chi cục thi hành án dân sự huyện Lý Nhân).
[3] Căn cứ Điều 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:
- Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Phan Văn B phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
- Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của các Điều 6,7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND tỉnh Hà Nam; - Trại giam CA tỉnh Hà Nam; - Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam; - VKSND huyện Lý Nhân; - Công an huyện Lý Nhân; - Chi cục THADS huyện Lý Nhân; - Bịcáo; - Lưu: Hồ sơ + Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Đinh Văn An |