- Tranh chấp gì? án hình sự — "Chu Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật hình sự Tuyên bố
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG HỶ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:41/2022/HS-ST Ngày: 08-9-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Châm Thị Vân Khánh
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Thanh Hải
2. Bà Nguyễn Thị Nguyệt
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Triệu Cẩm Chi- Thư ký Toà án nhân dân
huyện Đồng Hỷ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ tham gia phiên toà: Bà
Lê Thị Tuyết Chinh - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 9 năm 2022, Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái
Nguyên mở phiên tòa trực tuyến tại 02 điểm cầu gồm: Điểm cầu trung tâm tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên và điểm cầu thành phần tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 45/2022/TLST-HS, ngày 26 tháng 8 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2022/HSST-QĐ, ngày 29 tháng 8 năm 2022, đối với bị cáo:
Họ và tên: Chu Văn T; giới tính: Nam; sinh năm 1979; nơi ĐKHKTT và
chỗ ở: xóm X, xã Q, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 6/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Chu Tiến T (đã chết) và bà Nông Thị H; Vợ: Nguyễn Thị Ch, vợ chồng có 01 con sinh năm 2009; Tiền án, Tiền sự: không.
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/6/2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà
tạm giữ Công an huyện Đồng Hỷ; có mặt tại phiên tòa.
- Người chứng kiến:
Anh Hoàng Văn B, sinh năm 1971(Vắng mặt)
Địa chỉ: Xóm L, xã Q, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
Những người tiến hành tố tụng tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ
Công an huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên:
1. Ông Lưu Mạnh Hùng- Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ,
tỉnh Thái Nguyên.
Những người tham gia tố tụng khác tại điểm cầu thành phần:
1. Ông Dương Văn Quảng- Đại úy, Cán bộ Công an huyện Đồng Hỷ, tỉnh
Thái Nguyên.
2. Ông Hoàng Văn Thanh- Hạ sỹ, Chiến sỹ Công an huyện Đồng Hỷ, tỉnh
Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 15 phút ngày 17/6/2022, tổ công tác của Công an huyện
Đồng Hỷ phối hợp cùng Công an xã Q đang làm nhiệm vụ tại địa bàn xóm Th, xã Q, huyện Đồng Hỷ thì phát hiện bắt quả tang Chu Văn T, sinh năm 1979 trú tại: xóm X, xã Q, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Qua kiểm tra, T đã tự giác lấy ra từ trong túi quần phía trước bên trái đang mặc của T 01 gói nhỏ gói bằng giấy bạc màu vàng, bên trong có chứa chất bột màu trắng (T khai là ma túy Heroine). Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng theo quy định.
Tại Bản kết luận giám định số 896/KL-KTHS ngày 25/6/2022 của Phòng
kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ của Chu Văn T là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,184gam.
Tại Cơ quan điều tra Chu Văn T khai: T là đối tượng nghiện ma túy nên đi
mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Khoảng 8 giờ 00 phút ngày 17/6/2022, T một mình đi bộ từ nhà đến khu vực mỏ đá Đồng Chuỗng thuộc xóm Th, xã Q, huyện Đồng Hỷ để tìm mua ma túy, sử dụng cho bản thân. Tại đây, T gặp một người đàn ông không rõ tên, tuổi, lai lịch địa chỉ cụ thể và mua 01 gói Heroine của người đàn ông này với giá 100.000đ. T cất ma túy vừa mua được vào trong túi quần phía trước bên trái đang mặc của T rồi đi bộ về nhà. Khi T đi đến đoạn đường dân sinh thuộc xóm Th, xã Q, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên thì bị tổ công tác của Công an huyện Đồng Hỷ kiểm tra bắt giữ, thu giữ vật chứng như nêu trên.
Tại phiên tòa, bị cáo Chu Văn T khai nhận rõ hành vi phạm tội như lời khai
tại cơ quan điều tra và bản cáo trạng mô tả. Bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người, đúng tội, không oan.
Tại bản Cáo trạng số 42/CT-VKSĐH ngày 25/8/2022, Viện kiểm sát nhân
dân huyện Đồng Hỷ truy tố Chu Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, trong phần luận tội đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện
Đồng Hỷ giữ nguyên bản Cáo trạng số 42/CT-VKSĐH ngày 25/8/2022, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Chu Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
- Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều
38 Bộ luật hình sự: xử phạt Chu Văn T từ 18 đến 24 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo; Về vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy vật chứng được niêm phong trong 02 phong bì A1, LK. Về án phí: bị cáo thuộc hộ cận nghèo nên miễn án phí HSST cho bị cáo.
Trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện
kiểm sát.
Trong lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo nhận thấy
hành vi của mình là sai và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, Quyết
định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đồng Hỷ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký, Kiểm sát viên tiến hành tố tụng chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên
tòa là khách quan, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, vật chứng thu được, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Khoảng 9h30 phút ngày 17/6/2022, tại khu vực xóm Th, xã Q, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, bị cáo T đã có hành vi tàng trữ 0,184gam Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Nội dung điều luật quy định như sau:
“ 1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích
mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
....
c) Heroine.... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;...”
Bản cáo trạng số 42/CT-VKSĐH ngày 25/8/2022 của Viện kiểm sát nhân
dân huyện Đồng Hỷ truy tố Chu Văn T theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ.
Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, về nhân thân, các tình tiết
tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng đến chính sức khỏe của bị cáo, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương, là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm khác. Bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình.
Bị cáo không có tiền án, tiền sự, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên
tòa bị cáo khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải.Vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự
Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, sau khi
xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân đối với bị cáo. Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
- Về hình phạt bổ sung: bị cáo là người nghiện ma túy, nhiễm HIV, qua xác
minh lời khai tại phiên tòa không có tài sản, không có thu nhập, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về biện pháp ngăn chặn: Cần áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.
Quyết định tạm giam bị cáo Chu Văn T 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Về vật chứng: cần tịch thu, tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo còn lại
sau giám định và các vật chứng khác không có giá trị sử dụng.
Về án phí: Bị cáo thuộc hộ cận nghèo, tại phiên tòa bị cáo đề nghị miễn
án phí. Vì vậy Hội đồng xét xử xét miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của
pháp luật.
Các vấn đề khác: Trong vụ án này còn có người đàn ông đã bán ma túy
cho bị cáo tại khu vực mỏ đá Đ, thuộc xóm Th, xã Q, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, do bị cáo T không xác định được nhân thân, lai lịch, địa chỉ cụ thể, nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để mở rộng điều tra vụ án.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38
Bộ luật hình sự
Tuyên bố bị cáo Chu Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Xử phạt bị cáo Chu Văn T 24(Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ
ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo 17/6/2022.
2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền
đối với bị cáo.
3.Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo
Chu Văn T 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án;
4.Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố
tụng hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy 02 (Hai) phong bì niêm phong còn nguyên vẹn ký hiệu
A1, LK.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/8/2022
giữa Công an huyện Đồng Hỷ và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đồng Hỷ)
4.Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều
12, khoản 6 Điều 15, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Chu Văn T.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ
ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - TAND tỉnh Thái Nguyên; - Sở tư pháp tỉnh Thái Nguyên; - VKSND huyện Đồng Hỷ; - Công an huyện Đồng Hỷ; - THADS huyện Đồng Hỷ; - THA phạt tù; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Châm Thị Vân Khánh THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Châm Thị Vân Khánh |