- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn và tranh chấp về nuôi con"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2022/HNGĐ-ST Ngày: 29 – 7 – 2022 V/v:“Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thanh Bình
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Huỳnh Phước
2. Ông Hà Văn Châu
Thư ký phiên tòa: ông Trần Bảo Quốc, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Đồ Ngọc Tuyền – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình số 100/2022/TLST – HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2022 về việc: “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Huỳnh Hồng L, sinh năm 19xx
Địa chỉ: Số , đường P, khóm , phường , thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Quang L, sinh năm 19xx.
Địa chỉ: Số , đường P, khóm , phường , thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 06 tháng 4 năm 2022, bản tự khai ngày 06/5/2022 và các lời khai tại Toà án nguyên đơn chị Huỳnh Hồng L trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh L kết hôn vào 2010 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được UBND Phường 2, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào ngày 31/12/2010. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc và có với nhau 02 con chung. Trong khoảng thời gian gần 01 năm trở lại đây cuộc sống hôn nhân bắt đầu xảy ra mâu thuẫn về tình cảm vợ chồng, bất đồng quan điểm sống, trong công việc, mâu thuẫn vợ chồng không hàn gắn lại được mặc dù được gia đình hai bên hòa giải, hàn gắn nhưng không thay đổi được tình trạng mâu thuẫn, dẫn đến vợ chồng sống ly thân với nhau. Hiện nay, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, không thể tiếp tục chung sống với nhau, giữa chị với anh L không còn quan tâm đến nhau, không còn tình cảm với nhau, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Nay chị Huỳnh Hồng L yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Nguyễn Quang L theo quy định.
- Về con chung: Vợ chồng chị có 02 con chung tên Nguyễn Huỳnh Thiên L, sinh ngày 18/02/xxxx và Nguyễn Huỳnh Thiên L, sinh ngày 16/4/xxxx. Sau khi ly hôn, chị L có yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Vợ chồng tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
- Về nợ chung: Vợ chồng chị không có nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi Hội đồng xét xử vào nghị án thì Thẩm phán xác định về thẩm quyền, quan hệ pháp luật, tư cách đương sự, thời hạn chuẩn bị xét xử đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật và thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát cũng đảm bảo. Tại phiên Tòa Hội đồng xét xử, Thư ký cũng chấp hành đúng theo quy định của pháp luật.
Đối với các đương sự nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành pháp luật là vắng mặt nhiều lần không có lý do.
- Về nội dung: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về tố tụng:
Về quan hệ tranh chấp: Chị L và anh L là vợ chồng trong thời gian chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn nên chị L yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh L và yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con sau khi ly hôn. Cho nên, xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết: Theo đơn khởi kiện chị L xin ly hôn với anh L và sau khi ly hôn chị L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung đây là vụ án được xác định theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Căn cứ vào quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng Dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân cấp huyện. Bị đơn anh L có địa chỉ thường trú tại thành phố Sóc Trăng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng.
Về sự vắng mặt của bị đơn: Toà án đã tống đạt hợp lệ bị đơn đến tham gia phiên toà lần thứ hai mà bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh L kết hôn vào năm 2010, có đi đăng ký kết hôn tại UBND phường 2, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc. Tại thời điểm đăng ký kết hôn chị L và anh L đều đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, nên hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận.
Xét yêu cầu của chị L xin ly hôn với anh L: Hội đồng xét xử thấy rằng, sau khi kết hôn chị L và anh L chung sống với nhau hạnh phúc được một thời gian thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo lời trình bày của chị L là về tính chất công việc chị L phải đi giao tiếp khách hàng nhiều từ đó anh L ghen, dẫn đến vợ chồng không còn tình cảm và luôn bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Mâu thuẫn ngày càng nhiều dẫn đến hiện nay anh chị không còn chung sống với nhau như vợ chồng. Vào năm 2021 chị L đã có làm đơn xin ly hôn với anh L, sau khi Toà án thụ lý anh L hứa sẽ thay đổi tính tình nên chị rút lại yêu cầu khởi kiện nhưng sau đó thì tình trạng mâu thuẫn vợ chồng vẫn không thay đổi, do đó chị mới tiếp tục làm đơn xin lý hôn với anh L. Từ đó, cho thấy thực trạng mâu thuẫn giữa chị L và anh L đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Hiện nay, chị L và anh L không còn thương yêu và chăm sóc lẫn nhau điều này thể hiện mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lụa.
Về con chung: Chị L và anh L có 02 người con tên Nguyễn Huỳnh Thiên L, sinh ngày 18/02/xxxx và Nguyễn Huỳnh Thiên L, sinh ngày 16/4/xxxx hiện nay do chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Nhận thấy, con từ trước đến nay đều do chị L chăm sóc nuôi dưỡng và hiện nay 02 cháu phát triển bình thường, được chị L chăm lo đầy đủ về các điều kiện sinh hoạt hàng ngày. Xuất phát từ mọi lợi ích của 02 người con chung. Căn cứ vào Điều 81 và Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình cần phải giao 02 con chung cho chị L tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Chị L là người trực tiếp nuôi dưỡng con, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Chị L trình bày vợ chồng, tự thoả thuận và trong quá trình giải quyết vụ án anh L cũng không có đơn yêu cầu phân chia tài sản chung, nên Toà án không đặt ra xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Chị L trình bày vợ chồng không có và trong quá trình giải quyết vụ án anh L cũng không có văn bản trình bày vợ chồng có nợ chung, nên Toà án không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ và khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tung Dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án chị L phải chịu án phí là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng: Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
- Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Huỳnh Hồng L được ly hôn với anh Nguyễn Quang L.
2. Về con chung: Sau khi chị L và anh L ly hôn, con chung tên Nguyễn Huỳnh Thiên L, sinh ngày 18/02/xxxx và Nguyễn Huỳnh Thiên L, sinh ngày 16/4/xxxx, giao cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Anh L không có cấp dưỡng nuôi con.
Anh Liêm có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung tên Nguyễn Huỳnh Thiên L, sinh ngày 18/02/xxxx và Nguyễn Huỳnh Thiên L, sinh ngày 16/4/xxxx mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung: Vợ chồng tự thoả thuận, Toà án không có xem xét giải quyết.
4.Về nợ chung: Toà án không có xem xét giải quyết.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Huỳnh Hồng L phải chịu là 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0000410 ngày 07/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng, chị L đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.
6. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật hi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thưc hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND -TPST; - Chi cục THADS-TPST; - TAND - TST; - UBND phường 2, TPST; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Văn Thanh Bình |