vanban.org

Bản án 41/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Hồng Đ.

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Nguyễn Hồng Đ và anh Nguyễn Hoàng P là vợ chồng. Về con chung: Chị Nguyễn Hồng Đ tự khai, có 02 (hai) con chung là Nguyễn Trọng Đ, sinh ngày 20-02-1999 và Nguyễn Thị Mai P, sinh ngày 01-4-2004. Hiện nay đã trưởng thành và có công việc làm ổn định, nên Hội đồn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Không công chị Đ và anh P là vợ chồng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Hồng Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 Về việc thi hành Luật Hôn nhân…; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỸ TÚ
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 28-12-2022
V/v không công nhận quan hệ vợ chồng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hồng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Minh Tuấn.

Ông Lê Hoàng Điệt.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh là thư ký Tòa án nhân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú tham gia phiên tòa: Bà Triệu Thị Mộng Lý– Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 138/2022/TLST-HNGĐ, ngày 19 tháng 10 năm 2022 về việc không công nhận quan hệ vợ chồng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số: 81/2022/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Hồng Đ, sinh năm: 1977;

Địa chỉ: ấp X, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Nguyễn Hoàng P, sinh năm: 1972;

Địa chỉ: ấp X, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 29 tháng 7 năm 2022 cũng như trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Hồng Đ trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Hồng Đ và anh Nguyễn Hoàng P vào năm 1996 có tổ chức lễ cưới nhưng chị Đ và anh P không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Hôn nhân của chị Đ và anh P được xây dựng trên cơ sở là tự nguyện, không bị ai bắt buộc. Sau khi tổ chức lễ cưới, chị Đ và anh P chung sống tại ấp Xẻo Gừa, xã Mỹ Hương, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng. Thời gian đầu vợ chồng chị Đ và anh P chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2014 thì chị Đ và anh P bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống, trong cuộc sống vợ chồng chị Đ, anh P không tìm được tiếng nói chung từ đó dẫn đến vợ chồng chị Đ, anh P thường xuyên cãi vã và chị Đ, anh P đã sống ly thân từ năm 2014 cho đến nay. Nay chị Nguyễn Hồng Đ nhận thấy tình cảm vợ chồng giữa chị và anh P không còn nên chị Đ yêu cầu Toà án giải quyết không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Đvà anh Phúc.

Về con chung: Trong thời gian chung sống, chị Nguyễn Hồng Đ và anh Nguyễn Hoàng P có 02 (hai) con chung là Nguyễn Trọng Đ, sinh ngày 20-02-1999 và Nguyễn Thị Mai P sinh ngày 01-4-2004. Hiện nay cháu Đ, cháu P đã đủ 18 (mười tám) tuổi và có công việc làm ổn định nên chị Nguyễn Hồng Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Hồng Đ tự khai, không có, không yêu cầu Tòa án xem xét.

Đối với bị đơn anh Nguyễn Hoàng P: Sau khi thụ lý, Tòa án đã tóm tắt nội dung đơn khởi kiện và các yêu cầu của nguyên đơn chị Nguyễn Hồng Đ tại Thông báo thụ lý vụ án số: 263/TB-TLVA, ngày 19 tháng 10 năm 2022 và đã tống đạt hợp lệ cho bị đơn anh Nguyễn Hoàng P, cũng như đã triệu tập hợp lệ anh Pđến dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải hai lần nhưng anh P đều không đến dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Sau đó Tòa án đã Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho anh Pnhưng anh P không gửi văn bản ghi ý kiến của anh đối với yêu cầu khởi kiện nêu trên của chị Nguyễn Hồng Đ.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng trình bày ý kiến như sau:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự như: Xác định đúng thẩm quyền thụ lý vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, việc thu thập chứng cứ đúng theo quy định. Về thời hạn chuẩn bị xét xử được đảm bảo theo quy định. Về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, việc cấp tống đạt đảm bảo đúng theo quy định. Tại phiên Tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm.

Về nội dung vụ án: Đối với yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Hồng Đ, về việc yêu cầu không công nhận chị Đ, anh Plà vợ chồng; về con chung hiện nay cháu là Nguyễn Trọng Đức, sinh ngày 20-02-1999 và Nguyễn Thị Mai Phương, sinh ngày 01-4-2004, iện nay cháu Đức, cháu Phương đã đủ 18 (mười tám) tuổi và có công việc làm ổn định chị Nguyễn Hồng Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét; về tài sản chung và nợ chung chị Đtự khai tự không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia tố tụng:

Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị Nguyễn Hồng Đ vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Đối với bị đơn anh Nguyễn Hoàng P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về thủ tục thụ lý việc khởi kiện của nguyên đơn: Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng nhận được đơn yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Hồng Đ cùng tài liệu, chứng cứ kèm theo do nguyên đơn chị Nguyễn Hồng Đ nộp trực tiếp tại Tòa án. Ngay sau khi nhận được đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo, Tòa án thực hiện thủ tục nhận, xử lý đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Hồng Đ và thụ lý vụ án đúng quy định tại Điều 191 và Điều 195 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Nguyễn Hồng Đ yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Hồng Đ và bị đơn anh Nguyễn Hoàng P cư trú tại ấp Xẻo Gừa, xã Mỹ Tú, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng. Căn cứ khoản 8 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử xác định việc Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng thụ lý, giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết vụ án.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Hồng Đ và anh Nguyễn Hoàng P xác lập quan hệ vợ chồng trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới nhưng không đăng ký kết hôn theo đúng quy định pháp luật. Trong quá trình chung sống theo chị Đ trình bày do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, trong cuộc sống vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã. Chị Đ và anh Pđã sống ly thân cuối năm 2014 đến nay, khi chị Đ, anh Psống ly thân thì anh Pkhông quan tâm, chăm sóc gia đình. Nay chị Nguyễn Hồng Đ yêu cầu Toà án giải quyết tuyên bố không công nhận chị Nguyễn Hồng Đ và anh Nguyễn Hoàng P là vợ chồng.

Xét thấy, chị Nguyễn Hồng Đ, anh Nguyễn Hoàng P sống chung với nhau như vợ chồng vào năm 1996 có đủ điều kiện kết hôn nhưng không đăng ký kết hôn là vi phạm khoản 1 Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Mặc khác, theo điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì: “Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03 tháng 01 năm 1987 đến ngày 01 tháng 01 năm 2001, mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực cho đến ngày 01 tháng 01 năm 2003; trong thời hạn này mà họ không đăng ký kết hôn, nhưng có yêu cầu ly hôn thì Toà án áp dụng các quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết. Từ sau ngày 01 tháng 01 năm 2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng”. Nên việc chị Nguyễn Hồng Đ yêu cầu không công nhận quan hệ giữa chị Đvà anh Plà vợ chồng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Nguyên đơn chị Nguyễn Hồng Đ và bị đơn anh Nguyễn Hoàng P tự khai có 02 (hai) con chung là Nguyễn Trọng Đ, sinh ngày 20-02-1999 và Nguyễn Thị Mai Phương, sinh ngày 01-4-2004. Hiện nay cháu Đức, cháu Phương đã đủ 18 (mười tám) tuổi và có công việc làm ổn định, nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn chị Nguyễn Hồng Đ và bị đơn anh Nguyễn Hoàng P tự khai không có tài sản chung và nợ chung, nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên như đã nhận định nêu trên là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Hồng Đ phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 8 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ khoản 1 Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm b khoản 3 Nghị Quyết 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình 2000.

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Hồng Đ.

1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Nguyễn Hồng Đ và anh Nguyễn Hoàng P là vợ chồng.

2. Về con chung: Chị Nguyễn Hồng Đ tự khai, có 02 (hai) con chung là Nguyễn Trọng Đ, sinh ngày 20-02-1999 và Nguyễn Thị Mai P, sinh ngày 01-4-2004. Hiện nay đã trưởng thành và có công việc làm ổn định, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Hồng Đ và anh Nguyễn Hoàng P tự khai không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn chị Nguyễn Hồng Đ phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, khấu trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng theo biên lai thu tiền số 0005194, ngày 10 tháng 10 năm 2022 nguyên đơn chị Nguyễn Hồng Đ đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

5. Nguyên đơn, bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung), thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ