- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh T yêu càu ly hôn chị G"
- Tòa quyết gì? Điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 và khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÙ LAO DUNG TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2022/HNGĐ-ST Ngày: 07-12-2022 V/v ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÙ LAO DUNG, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Phước Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lê Thị Thanh Nhã.
Ông Lê Văn Linh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Tô Văn Thừa – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Minh Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 71/2022/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2022 về việc ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 11 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 29/2022/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1986.
Nơi cư trú: Ấp P, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
- Bị đơn: Chị Trần Thị Hồng G, sinh năm 1989.
Nơi cư trú: Ấp Đ, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 13 tháng 4 năm 2022 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Nguyễn Văn T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Vào tháng 02 năm 2006 anh Nguyễn Văn T và chị Trần Thị Hồng G tự nguyện sống chung và có tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương, nhưng đến ngày 10/3/2010 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A theo quy định pháp luật. Sau khi kết hôn anh T và chị G chung sống hạnh phúc đến tháng 8 năm 2017 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng ý kiến trong cuộc sống nên anh T và chị G sống không còn hạnh phúc, anh T và chị G sống ly thân từ tháng 8 năm 2017 cho đến nay.
- Về con chung: Trong thời gian chung sống anh T và chị G có 02 con chung tên Nguyễn Thị Quỳnh N, sinh ngày 18/4/2007 và Nguyễn Thị Quỳnh M, sinh ngày 11/4/2014, hiện nay Quỳnh N và Quỳnh M đang sống chung với anh T.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Nay anh T yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn T yêu cầu được ly hôn với chị Trần Thị Hồng G.
- Về con chung: Anh T yêu cầu được nuôi con chung tên Nguyễn Thị Quỳnh N, sinh ngày 18/4/2007 và Nguyễn Thị Quỳnh M, sinh ngày 11/4/2014 cho đến khi Quỳnh N và Quỳnh M thành niên, anh T không yêu cầu chị G cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã ban hành thông báo thụ lý vụ án số 71/TB-TLVA ngày 18 tháng 10 năm 2022, tống đạt hợp lệ cho bị đơn chị Trần Thị Hồng G, nhưng chị G không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của anh T. Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ đối với chị G để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng chị G vắng mặt không có lý do, anh T có đơn yêu cầu Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và không tiến hành hòa giải nên Tòa án lập biên bản không tiến hành hòa giải được và cũng không có lời khai của chị G trong hồ sơ vụ án.
* Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự, trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, riêng bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án, xét thấy nguyên đơn, bị đơn thường xuyên mâu thuẫn với nhau do bất đồng quan điểm sống, không còn sống chung với nhau thời gian dài, không hàn gắn được nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.
- Về con chung: Anh T và chị G có 02 con chung tên Nguyễn Thị Quỳnh N, sinh ngày 18/4/2007 và Nguyễn Thị Quỳnh M, sinh ngày 11/4/2014. Tại văn bản ghi nhận ý kiến lập cùng ngày 08/11/2022, cháu N và cháu M có nguyện vọng được sống chung với anh T. Căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử giao hai cháu Nguyễn Thị Quỳnh N, sinh ngày 18/4/2007 và Nguyễn Thị Quỳnh M, sinh ngày 11/4/2014 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên là phù hợp, anh T không yêu cầu chị G cấp dưỡng nuôi con chung nên không đặt ra xem xét. Căn cứ vào khoản 1 Điều 81; khoản 1, 3 Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình, giành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung cho chị G.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
- Về án phí: Anh T có đơn yêu cầu ly hôn nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Từ những phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử nghị án và tuyên án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Về thủ tục thụ lý đơn khởi kiện của nguyên đơn và thẩm quyền giải quyết: Anh Nguyễn Văn T, cư trú tại Ấp P, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; chị Trần Thị Hồng G, cư trú tại ấp Đ, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Anh T có đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với chị G và yêu cầu được trực tiếp cuôi con chung. Anh T đã nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng và các tài liệu, chứng cứ kèm theo, Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung đã thụ lý đơn khởi kiện và thông báo cho anh T nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định của pháp luật và anh T đã thực hiện việc nộp tiền tạm ứng án phí đúng quy định. Như vậy, việc Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng thụ lý đơn khởi kiện của anh Nguyễn Văn T là đúng thẩm quyền và đúng theo trình tự thủ tục tố tụng theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 191 và Điều 195 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn chị Trần Thị Hồng G đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai và vắng mặt không có lý do nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn chị Trần Thị Hồng G.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1986 và chị Trần Thị Hồng G, sinh năm 1989 tự nguyện đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn số 123, quyển số 01/2009 ngày 10 tháng 3 năm 2010 nên quan hệ hôn nhân giữa anh Nguyễn Văn T và chị Trần Thị Hồng G là hợp pháp.
Xét lý do xin ly hôn của anh Nguyễn Văn T, Hội đồng xét xử xét thấy, sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng anh T, chị G hạnh phúc được một thời gian. Đến tháng 8 năm 2017, thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng ý kiến trong cuộc sống nên vợ chồng không còn hạnh phúc, anh T và chị G không còn sống chung từ tháng 8 năm 2017 cho đến nay. Anh T và chị G đã bỏ mặc nhau làm cho tình trạng hôn nhân của vợ chồng anh T và chị G trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh T.
Về con chung: Anh T và chị G có 02 con chung tên Nguyễn Thị Quỳnh N, sinh ngày 18/4/2007 và Nguyễn Thị Quỳnh M, sinh ngày 11/4/2014. Tại văn bản ghi nhận ý kiến lập cùng ngày 08/11/2022, cháu N và cháu M có nguyện vọng được sống chung với anh T. Căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử quyết định giao hai cháu Nguyễn Thị Quỳnh N, sinh ngày 18/4/2007 và Nguyễn Thị Quỳnh M, sinh ngày 11/4/2014 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên là phù hợp, đúng quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con: Trong quá trình giải quyết vụ án, anh T không yêu cầu chị G cấp dưỡng nuôi con chung đến tròn 18 tuổi nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 81, khoản 1 và khoản 3 Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình, chị Trần Thị Hồng G có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Chị G không được lạm dụng việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của anh T.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên về nội dung giải quyết vụ án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Anh Nguyễn Văn T là người có đơn xin ly hôn nên căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, anh T phải chịu án phí sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 và khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Khoản 1 Điều 56; khoản 1, 2 Điều 81; khoản 1, 3 Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Nguyễn Văn T và chị Trần Thị Hồng G ly hôn.
2. Về con chung: Giao hai con chung tên Nguyễn Thị Quỳnh N, sinh ngày 18/4/2007 và Nguyễn Thị Quỳnh M, sinh ngày 11/4/2014 cho anh Nguyễn Văn T trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên. Chị Trần Thị Hồng G có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Chị G không được lạm dụng việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của anh T.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
4. Về tài sản chung, nợ chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
5. Về án phí: Anh Nguyễn Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0004966 ngày 12 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, anh Nguyễn Văn T đã nộp xong án phí.
6. Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; riêng bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo trình tự phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Cù Lao Dung; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cù Lao Dung; - TAND tỉnh Sóc Trăng (P.KTNV & THA); - UBND xã A, huyện C; - Lưu hồ sơ; - Lưu Tòa án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Đặng Phước Tuấn |