- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "NĐ Huỳnh Thị Mỹ L; BĐ Lồ Cổng Ph"
- Căn cứ chính? Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2022/DS-PT Ngày: 21-4-2022 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
Thành ph n H i đ ng xét x phúc th m g m có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quản
Các Thẩm phán:
Ông Trần Phước Hiệu
Bà Vũ Thị Thanh Hòa
Thư ký phiên tòa: Ông Thái Văn Trung – Cán bộ Tòa án nhân dân tỉnh
Bình Thuận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên
tòa: Ông Đinh Văn Lai - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 4 năm 2022, tại trụ s Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận
t phúc th m công hai vụ án dân sự thụ l số 114/2021/TLPT-DS ngày 15 tháng 11 năm 2021 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản ”.
Do Bản án dân sự sơ th m số 11/2021/DS-ST ngày 23/9/2021 của Tòa
án nhân dân huyện Bắc Bình bị háng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra t số 18/2022/QĐ-PT ngày 04 tháng
3 năm 2022; Thông báo thời gian địa điểm m lại phiên tòa số 41/TB-TA ngày 05/4/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Mỹ L, sinh năm 1978.
Địa chỉ: Thôn H Xuân, ã H Ninh, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình
Thuận.
2. Bị đơn: Bà Lồ Cỏng Ph, sinh năm 1967.
Địa chỉ: Số 11 đường Võ Thị Sáu, thôn H Xuân, ã H Ninh, huyện
Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận.
3. Người kháng cáo: Bị đơn bà Lồ Cỏng Ph
Tại phiên tòa, có mặt các đương sự.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 28/4/2021, các lời khai và tại phiên tòa
nguyên đơn - bà Huỳnh Thị Mỹ L trình bày:
Vào tháng 01 năm 2017 âm lịch (19/02/2017 dương lịch), thông qua
một người cháu của bà Lồ Cỏng Ph, bà L quen biết bà Ph. Từ đó, bà Ph có hỏi vay tiền bà L để lo việc làm ăn của bà Ph. Khi vay tiền, bà Ph hứa hi nào thế chấp được sổ đỏ (giấy chứng nhận quyền s dụng đất) thì sẽ trả tiền lại cho bà L nên bà L đồng cho bà Ph vay tiền. Bà L đã cho bà Ph vay nhiều lần, cụ thể số lần và thời gian nào bao nhiêu thì hông nhớ. Lãi suất hai bên thỏa thuận là 5%/tháng, hi vay hai bên hông nói thời hạn vay là bao lâu, hi nào cần thì báo cho bên vay để trả lại, lãi suất tính theo tháng như thỏa thuận. Mục đích vay ban đầu thì bà Ph nói với bà L là vay đỡ để hi nào thế sổ đỏ được thì lấy tiền trả lại cho bà L. Sau đó, bà Ph lấy tiền của bà L để cho người hác vay lại với lãi suất cao hơn để hư ng lợi.
Sau hi vay tiền của bà L ngày 23/01/2017 âm lịch thì tháng đầu là 07
ngày nên bà L không tính lãi, bà L chỉ tính lãi từ tháng 02/2017 tr đi và bà Ph có trả lãi đầy đủ đến cuối năm 2017 (Âm lịch) là 11 tháng 17.500.000 đồng tổng số tiền là 192.000.000 đồng. Đến tháng 01/2018 (Âm lịch) bà Ph hông trả lãi, đến tháng 02/2018 (Âm lịch) trả thêm 19.000.000 đồng tiền lãi và ể từ đó bà Ph hông trả lãi nữa. Sau một thời gian, bà L tiếp tục yêu cầu bà Ph trả tiền nợ nhưng bà Ph vẫn hông trả. Do đó, vào ngày 12/9/2020, bà L có gặp bà Ph để đòi nợ và chốt lại số tiền vay giữa bà L với bà Ph. Bà Phồng tự nguyện tự tay viết và vào tờ “giấy mượn tiền” để làm bằng chứng. Hai bên chốt nợ và thống nhất số tiền bà Ph còn nợ bà L là 350.000.000 đồng. Do đó, bà L yêu cầu bà Ph phải trả cho bà L số tiền 350.000.000 đồng.
Tại buổi hòa giải ngày 26/5/2021, bà Ph đã đồng trả nợ cho bà L nên
bà L không yêu cầu tính lãi. Sau đó, bà Ph thay đổi iến hông chấp nhận toàn bộ yêu cầu h i iện của bà L.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bà L cho rằng việc tính lãi suất
5%/tháng là vượt quá mức lãi suất quy định nên bà L yêu cầu tính lại tiền gốc và lãi mà bà Ph còn nợ theo mức lãi suất 20%/năm, đồng làm tròn 1,66%/tháng, lãi tính trên số tiền gốc 350.000.000 đồng. Số tiền lãi đã trả hằng tháng vượt quá quy định bà L trừ dần vào tiền gốc tại thời điểm trả nợ và tiếp tục tính lãi trên số tiền gốc mới. Sau hi tính toán lại, bà L yêu cầu bà Ph trả nợ số tiền gốc là 194.905.662 đồng, số tiền lãi tính đến tháng 5/2021 âm lịch là 125.113.985 đồng. Tổng cộng cả gốc và lãi là 320.019.647 đồng, nhưng tại phiên Tòa bà L chỉ yêu cầu bà Ph trả cả gốc và lãi là 320.000.000 đồng hông yêu cầu tính lãi ể cả tiền lãi chậm thực hiện nghĩa vụ trong trong giai đoạn thi hành án.
Theo các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn – Bà Lồ
Cổng Ph trình bày:
Ngày 23/01/2017, bà Ph thừa nhận có vay của bà Huỳnh Thị Mỹ L số
tiền 350.000.000 (Ba trăm năm mươi triệu) đồng để inh doanh. Lãi suất 5%/tháng, nhưng hông có thời hạn vay, bà vẫn trả lãi hàng tháng cho bà L bình thường từ lúc vay cho đến nay được 190.000.000 (Một trăm chín mươi triệu) đồng. Đến ngày 12/9/2020, bà hông còn hả năng trả nợ được nữa do làm ăn bị thất bại. Hai bên tiến hành làm giấy chốt nợ về số tiền gốc tại nhà của bà còn lại là 350.000.000 đồng. Nay, bà Huỳnh Thị Mỹ L yêu cầu bà trả số tiền trên thì bà hoàn toàn đồng . Nhưng, hiện nay bà đang bị bệnh hông có hả năng trả được nữa, bà Ph có đề nghị bà L giảm bớt số tiền trên để bà trả dần.
Tại bản tự hai ngày 25/5/2021, bà Ph thừa nhận đã nhận của bà L số
tiền 350.000.000 đồng, hàng tháng bà Ph trả cho bà L số tiền 17.500.000 đồng tương đương với lãi suất 5%/tháng và đã trả lãi được 12 tháng là 210.000.000 đồng. Đến tháng 02/2018 âm lịch thì trả thêm 19.000.000 đồng tiền lãi nữa, tổng cộng đã trả được 229.000.000 đồng tiền lãi. Do người mà bà Ph cho vay hông có hả năng trả nợ được nên bà cũng hông có tiền để trả lại cho bà L. Đồng thời bà Ph đề nghị bà L cùng gánh chịu rủi ro đến hi nào bà Ph đòi được nợ của những người vay thì sẽ trả tiếp cho bà L.
Tại buổi hòa giải ngày 26/5/2021, bà Ph đã đồng trả nợ cho bà L số
tiền 350.000.000 đồng. Ngày 31/5/2021, bà Ph thay đổi iến đối với nội dung thỏa thuận tại buổi hòa giải ngày 26/5/2021.
Tại biên bản lấy lời hai ngày 31/5/2021, bà Ph trình bày: Bà L dựa
vào mối quan hệ quen biết của bà nên đưa cho bà 350.000.000 đồng để bà đi cho người hác vay chứ bà hông có vay tiền của bà L. Đồng thời hi thu được tiền lãi về thì bà trả cho bà L lãi suất 5%/tháng trên số tiền 350.000.000 đồng. Thấy bà L tính lãi suất cao quá nên bà cho người hác vay lại với lãi 6%/tháng để hư ng 1% tiền lãi.
Sau khi hòa giải hông thành, ngày 23/9/2021, Tòa án nhân dân huyện
Bắc Bình đã đưa vụ án ra t tại bản án số 11/2021/DS-ST, quyết định:
Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26, điểm a hoản 1 Điều 35, điểm a hoản 1
Điều 39, hoản 1 điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015; Điều 9 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng th m phán tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và s dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu h i iện của nguyên đơn Huỳnh Thị
Mỹ L đối với bị đơn Lồ Cỏng Ph.
Buộc bà Lồ Cỏng Ph trả cho bà Huỳnh Thị Mỹ L số tiền 320.000.000
(Ba trăm hai mươi trăm triệu) đồng.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền háng cáo của các đương
sự và thời hiệu thi hành án dân sự.
Ngày 21/10/2021, bị đơn bà Lồ Cỏng Ph kháng cáo toàn bộ bản án sơ
th m.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bà Lồ Cỏng Ph vẫn giữ nguyên háng cáo, đề nghị Tòa phúc th m
hủy bản án của Tòa cấp sơ th m và đình chỉ giải quyết vụ án với l do: Bà có nhận 350.000.000đ của bà L nhưng hông phải bà vay bà L mà bà L đưa tiền cho bà để bà cho người hác vay, hi thu tiền lãi thì bà L có trả công cho bà.
- Bà Huỳnh Thị Mỹ L vẫn giữ nguyên yêu cầu h i iện, hông chấp
nhận háng cáo của bà Lồ Cỏng Ph, đề nghị Hội đồng t giữ nguyên bản án sơ th m.
- Đại diện Viện iểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận phát biểu: Việc
tuân theo pháp luật về tố tụng: Hội đồng t , Th m phán, Thư tiến hành tố tụng đúng quy định của pháp luật; người tham gia tố tụng chấp hành pháp luật; về nội dung: Đề nghị hông chấp nhận háng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ th m.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn c vào các tài liệu, ch ng c có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm
tra, xác minh tại phiên tòa, căn c vào trình bày và tranh luận của các đương sự, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận về việc giải quyết vụ án, H i đồng x t x nhận định:
Bà Huỳnh Thị Mỹ L khai bà có cho bà Lồ Cỏng Ph vay
350.000.000đ và cung cấp chứng là giấy mượn tiền đề ngày 23/01/2017 (âm lịch) có nội dung: “Tôi có mượn số tiền Huỳnh Thị Mỹ L là 350.000.000…tổng số tiền tôi còn thiếu bà L là 350.000.000 đồng”. Tại Tòa án hai cấp, bà Ph đều thừa nhận bà có viết, vào giấy mượn tiền nêu trên và bà có nhận của bà L 350.000.000đ. Tại phiên tòa, bà Ph cho rằng mặc dù bà có nhận của bà L 350.000.000đ nhưng đây không phải là hoản bà vay bà L, mà bà L đưa tiền cho bà nhờ bà cho người hác vay, hi thu được tiền lãi thì bà Lệ trả công cho bà 1%. Bà Ph trình bày như trên nhưng hông được bà L thừa nhận và hông đưa ra được tài liệu nào đề chứng minh cho lời trình bày của bà nên không có căn cứ chấp nhận. Với chứng cứ mà bà L cung cấp và sự thừa nhận của bà Ph, có đủ căn cứ hẳng định bà L có cho bà Ph vay 350.000.000đ.
Số tiền lãi đã trả: Các bên trình bày thống nhất lãi suất thỏa thuận là
5%/tháng. Bà Ph trình bày bà đã trả cho L tiền lãi trong năm 2017 là 12 tháng, mỗi tháng trả 17.500.00đ, tháng 2/2018 bà trả 19.000.000đ. Bà L cho rằng năm 2017, bà Ph chỉ trả lãi 11 tháng, hông phải 12 tháng, thừa nhận số lãi trả trong năm 2018. X t thấy, bà Ph trình bày đã trả lãi 12 tháng trong năm 2017 nhưng không có chứng cứ chứng minh, hông được bà L thừa nhận và hông phù hợp với giấy mượn tiền, giấy mượn tiền đề ngày 23/01/2017 nên bà Ph trình bày bà trả lãi tháng 01/2017 là 17.500.000đ là hông có căn cứ. Cấp sơ th m ác định số tiền lãi bà Ph đã trả theo sự thừa nhận của bà L là có cơ s .
Về yêu cầu của nguyên đơn: Lãi suất các bên thỏa thuận 5%/tháng là
hông phù hợp với quy định tại hoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự ( hông quá 20%/năm). Nguyên đơn yêu cầu số tiền lãi đã trả vượt quá quy định được trừ vào nợ gốc và yêu cầu tính lãi với mức lãi suất 1,66/%tháng từ hi vay đến hi t sơ th m. Số tiền nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả là 194.905.662 đ tiền gốc và 125.113.985 đ liền lãi, tổng cộng 320.000.000đ (làm tròn). Số tiền lãi đã trả vượt quá quy định được trừ vào tiền gốc cụ thể như sau:
Chênh lệch
Tháng
Gốc (đ)
Lãi phải trả (đ) Lãi đã trả (đ) (trừ vào gốc)
02/2017
350.000.000
5.810.000
17.500.000
11.690.000
3/2017
338.310.000
5.615.946
17.500.000
11.884.054
4/2017
326.425.946
5.418.671
17.500.000
12.081.329
5/2017
314.344.617
5.218.121
17.500.000
12.281.879
6/2017
302.062.737
5.014.241
17.500.000
12.485.759
7/2017
289.576.979
4.806.978
17.500.000
12.693.022
8/2017
276.883.957
4.596.274
17.500.000
12.903.726
9/2017
263.980.230
4.382.072
17.500.000
13.117.928
10/2017
250.862.302
4.164.314
17.500.000
13.335.686
11/2017
237.526.616
3.942.942
17.500.000
13.557.058
12/2017
223.969.558
3.717.895
17.500.000
13.782.105
01/2018
210.187.453
3.489.112
3.489.112
0
02/2018
210.187.453
3.489.112
15.510.888
12.021.777
03/2018
198.165.676
Tháng 01/2018, số lãi bà Ph phải trả là 3.489.112đ nhưng bà Ph chưa trả,
tháng 02/2018, bà Ph trả 19.000.000đ sẽ trừ vào lãi tháng 01/2018 là 3.489.112đ, tiền lãi đã trả tháng 2/2018 còn lại là 15.510.888đ, tiền lãi tháng 2/2018 phải trả là 3.489.112đ, chênh lệch 12.021.777 đ được trừ vào nợ gốc. Đến tháng 3/2018 (tháng 4/2018 dương lịch) bà Ph còn nợ của bà Lệ 198.165.676đ. Từ tháng 4/2018 đến ngày t sơ th m 23/9/2021 làm tròn 41 tháng. Tiền lãi phải trả là 198.165.676 đ 1,66%/tháng 41 tháng = 134.871.559đ. Tổng cộng cả gốc và lãi là 333.037.236đ. Tuy nhiên, nguyên đơn chỉ yêu cầu tính lãi đến tháng 5/2021 và yêu cầu bị đơn phải trả tổng cộng 320.000.000đ. Do vậy, cấp sơ th m đã chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn 320.000.000đ là có căn cứ. Kháng cáo của bị đơn yêu cầu hủy bản án sơ th m là hông có cơ s chấp nhận. Hội đồng t giữ nguyên bản án sơ th m như đề nghị của Viện iểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận.
Về tiền lại chậm trả trong giai đoạn thi hành án: Nguyên đơn hông
yêu cầu tính lãi chậm trả.
Do Bản án sơ th m được giữ nguyên nên bà Lồ Cỏng Ph phải chịu
án phí dân sự phúc th m theo quy định tại hoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; hoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và s dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QU T ĐỊNH:
Căn cứ hoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận háng cáo của bà Lồ Cỏng Ph. Giữ nguyên Bản án
dân sự sơ th m số 11/2021/DS-ST ngày 23/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận.
Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26, điểm a hoản 1 Điều 35, điểm a hoản 1
Điều 39, hoản 1 Điều 147, hoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Điều 463, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015;
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và s dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu h i iện của nguyên đơn Huỳnh Thị
Mỹ L đối với bị đơn Lồ Cỏng Ph.
1. Buộc bà Lồ Cỏng Ph trả cho bà Huỳnh Thị Mỹ L số tiền
320.000.000 (Ba trăm hai mươi trăm triệu) đồng.
2. Về án phí: Bà Lồ Cỏng Ph phải nộp 16.000.000 (Mười sáu triệu)
đồng án phí dân sự sơ th m và 300.000 đồng án phí dân sự phúc th m, được hấu trừ số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc th m đã nộp theo biên lai số 0002088 ngày 22/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận.
Trả lại cho bà Huỳnh Thị Mỹ L số tiền tạm ứng án phí đã nộp là
8.750.000 (Tám triệu bảy trăm năm mươi nghìn) đồng theo biên lai thu số 0001131 ngày 12/5/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc th m có hiệu lực pháp luật ể từ ngày tuyên án
(21/4/2022)
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Thuận; - TAND huyện Bắc Bình; - Chi cục THADS huyện Bắc Bình; - Đương sự; - Lưu: hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Quản |