- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Vàng A Kh, phạm tội " Mua bán trái phép chất ma tuý" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh:Tuyên bố bị cáo Vàng A Kh phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH YB | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2021/HSST Ngày: 24-11-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH YB
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Dũng
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hà Thị Bàn
Ông Hà Văn Lợi
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Đinh Mạnh Tú- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh YB.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh YB tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuý Nga - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh YB xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 42/2021/HSST ngày 27 tháng 10 năm 2021. Đối với bị cáo:
Họ và tên: Vàng A Kh- Tên gọi khác: không. Sinh năm 1981 tại Thôn LM, xã TX, huyện TrT, tỉnh YB; Hiện trú tại: Thôn LM, xã TX, huyện TrT, tỉnh YB. Dân tộc: Mông; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Không biết chữ. Quốc tịch Việt Nam; Tôn giáo: Không. Con ông Vàng Ga T và bà Sùng Thị L– Đều đã chết. Có vợ là Giàng Thị N - sinh năm 1989 và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2004, con nhỏ nhất sinh năm 2017. Hiện vợ, con cùng trú tại: Thôn LM, xã TX, huyện TrT, tỉnh YB. Tiền án, tiền sự: Không; Về nhân thân: Bị cáo đã từng bị Chủ tịch UBND huyện VC, tỉnh YB xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vận chuyển lâm sản trái phép bằng hình thức phạt tiền năm 2013, đã thi hành xong ngày 03 tháng 6 năm 2013. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23 tháng 6 năm 2021. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh YB, có mặt tại phiên toà.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Kim G– Luật sư thực hiện quyền trợ giúp pháp lý của trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh YB. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Giàng Thị N.
Địa chỉ: Thôn LM, xã TX, huyện TrT, tỉnh YB. Có mặt
Người phiên dịch: Ông Lù A Đ– Cán bộ phòng thi hành án và Hỗ trợ tư
pháp - Công an tỉnh YB. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và Cáo trạng, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có mối quan hệ quen biết từ trước nên có một người đàn ông tên là V(Bị cáo không biết họ tên, địa chỉ cụ thể) nhờ mua hộ ma tuý. Nên đến ngày 22 tháng 6 năm 2021, bị cáo Vàng A Kh đã gặp và mua của một người dân tộc Thái (không biết tên họ và địa chỉ cụ thể) ở khu vực gần Uỷ ban nhân dân xã ĐK, huyện VC 01 gói ma tuý dạng bột nén với giá 5.000.000 đồng. Đến ngày 23 tháng 6 năm 2021 bị cáo Vàng A Kh mang số ma tuý vừa mua được đến khu vực thôn KT, xã HC, huyện TY, tỉnh YB với mục đích để bán. Khi đến nơi, bị cáo Vàng A Kh và đối tượng tên là V đang chuẩn bị giao dịch, mua bán thì bị cơ quan Công an huyện TY phát hiện, bị cáo Vàng A Kh bị bắt giữ còn đối tượng có tên là V chạy thoát.
Tại bản Kết luận giám định số: 373/GĐMT ngày 30 tháng 6 năm 2021 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh YB đã kết luận: “Chất bột nén màu trắng thu giữ của Vàng A Kh có khối lượng là 35,08 gam…là ma tuý, loại Heroine”
Bản Cáo trạng số: 63/CT-VKS-P1 ngày 26 tháng 10 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh YB truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận các hành vi như Cáo trạng đã truy tố. Không tranh luận gì về tội danh; xin giảm nhẹ hình phạt ở mức thấp nhất. Đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho gia đình bị cáo chiếc xe mô tô loại YAMAHA SIRIUS biển kiểm soát 21B2-064.92 và xin miễn án phí Hình sự sơ thẩm.
Người bào chữa cho bị cáo tại phiên toà không tranh luận về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tình tiết bị cáo là người dân tộc thiểu số sống tại vùng có điệu kiện đặc biệt khó khăn về kinh tế - xã hội; bị cáo là người không biết chữ nên nhận thức pháp luật bị hạn chế. Bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo 15 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng và án phí: Nhất trí với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Giàng Thị N: Đề nghị Hội đồng xét xử cho gia đình xin lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát 21B2-064.92.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh YB thực hành quyền công tố tại phiên toà phát biểu luận tội đã giữ nguyên Cáo trạng truy tố. Sau khi phân tích tính chất nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện, cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Vàng A Kh phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Xử phạt bị cáo từ 15 năm 06 tháng đến 16 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1; các điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ vật chứng của vụ án là: 01 phong bì niêm phong 34,7 gam chất ma tuý còn lại sau khi đã lấy mẫu giám định và 01 mảnh nilon màu trắng. Tịch thu để xung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu NOKIA màu đen, loại bấm phím đã cũ của bị cáo Vàng A Kh.Trả lại cho bà Giàng Thị N 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius, biển kiểm soát 21B2-064.92.
Về án phí: Đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vàng A Kh.
Bị cáo không tranh luận gì thêm, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Công an tỉnh YB; của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh YB và của các Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Vàng A Kh đã khai nhận toàn bộ hành vi do bị cáo thực hiện. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Thể hiện bị cáo đã thực hiện hành vi mua ma tuý với mục đích để bán lại kiếm lời. Khi đang chuẩn bị bán lại cho người khác thì bị bắt giữ. Như vậy, có đủ căn cứ để kết luận bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Lượng ma tuý do bị cáo mua để bán là 35,08 gam, loại Heroine, thuộc trường hợp được quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự. Vì vậy Bản Cáo trạng số: 63/CT-VKS-P1 ngày 26 tháng 10 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh YB truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Bị cáo là người có đủ năng lực, trách nhiệm hình sự, hiểu rõ việc mua, bán ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi mua ma tuý với số lượng lớn về bán với mục đích thu lời bất chính. Thể hiện sự liều lĩnh, coi thường pháp luật của bị cáo. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách pháp luật của nhà nước trong lĩnh vực phòng chống và kiểm soát ma tuý, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn xã hội. Nên hành vi của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm, cần thiết phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Vàng A Kh được coi là chưa có tiền án, tiền sự, là người có nhân thân tốt. Trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên trong lượng hình cần áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự do “Thành khẩn khai báo” theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
. Tuy bị cáo Vàng A Kh phạm tội với mục đích thu lợi bất chính, nhưng thực tế bị cáo chưa bán được ma túy, chưa thu được lợi từ hành vi phạm tội. Bản thân bị cáo và gia đình là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; không có tài sản gì có giá trị lớn, không có nguồn thu nhập ổn định. Vì vậy, để tạo điều kiện cho gia đình bị cáo ổn định cuộc sống. Xét thấy không nhất thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự.
. Về vật chứng của vụ án: Đối với 35,08 gam chất ma tuý, loại Heroine, đã thu giữ của bị cáo. Sau khi lấy mẫu đi giám định, số ma tuý còn lại là 34,7 gam được niêm phong trong 01 phong bì niêm phong vật chứng do Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh YB phát hành và 01 mảnh nilon màu trắng. Xác định đây là vật chứng của vụ án. Xét thấy không còn giá trị sử dụng, không sử dụng được. Nên cần tịch thu tiêu huỷ theo quy định của khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm c khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu NOKIA màu đen, loại bấm phím đã cũ, có số IMEI: 353120115028390 thu giữ của bị cáo. Xác định đây là phương tiện bị cáo dùng để giao dịch khi thực hiện tội phạm. Nên căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Để tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước
Đối với chiếc mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius, biển kiểm soát 21B2-064.92 đã thu giữ của bị cáo. Xác định là tài sản chung của gia đình bị cáo, việc bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội là ngoài ý muốn của những người cùng sở hữu. Nên cần căn cứ vào quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, trả lại tài sản này cho người đại diện của gia đình bị cáo là bà Giàng Thị N (vợ bị cáo Vàng A Kh).
. Trong vụ án này còn có người đàn ông dân tộc Thái là người đã bán
ma tuý cho bị cáo tại xã ĐK và người đàn ông tên là V là người đã hứa hẹn mua ma tuý của bị cáo. Trong quá trình điều tra, bị cáo Vàng A Kh không cung cấp được họ tên, địa chỉ cụ thể của những người này. Nên cơ quan điều tra không có căn cứ để làm rõ hành vi mua, bán trái phép chất ma tuý có liên quan của những người này. Việc cơ quan điều tra không khởi tố những người này do không có căn cứ là phù hợp.
. Về án phí, bị cáo Vàng A Kh là người dân tộc thiểu số, cư trú tại vùng cao thuộc huyện Trạm Tấu, là vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên toà bị cáo có đề nghị được miễn án phí Hình sự sơ thẩm. Nên Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh:Tuyên bố bị cáo Vàng A Kh phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Về hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Vàng A Kh: 15 (Mười lăm) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo: 23-6-2021.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
2. Về vật chứng và tài sản đã thu giữ: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1; điểm a, điểm c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ các vật chứng của vụ án gồm: 01 phong bì niêm phong vật chứng do Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh YB phát hành, bên trong có niêm phong 34,7 gam chất ma tuý sau khi đã lấy mẫu giám định và 01 mảnh nilon màu trắng.
Tịch thu để xung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu NOKIA màu đen, loại bấm phím đã cũ, số IMEI: 353120115028390 của bị cáo Vàng A Kh.
Trả lại cho bà Giàng Thị N 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius, biển kiểm soát 21B2-064.92.
(Các vật chứng hiện đang do Cục thi hành án dân sự tỉnh YB quản lý)
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm
đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vàng A Kh.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân cấp cao; - VKSND; Sở Tư pháp; THADS tỉnh YB; Trại tạm giam; Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh. - bị cáo; người bào chữa. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. - Lưu: h/s, HS,HCTP, TQĐ, THA hình sự. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Dũng |