- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án xét xử bị cáo Nguyễn Hữu P và đồng phạm - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2021/HSST Ngày: 16 - 12 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhàn,
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Quang Ninh;
2. Ông Văn Anh Trình.
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Bà Hà Thị Ngọc Anh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh,
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Quyền, Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 12 năm 2021, tại Phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 34/2021/TLST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2021/QĐXX-ST, ngày 01 tháng 12 năm 2021 đối với các bị cáo:
1. Bị cáo Nguyễn Hữu P, sinh ngày 28 tháng 11 năm 1986; nơi sinh: Xã X, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Kinh doanh; nơi cư trú: Thôn X, xã X, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; trình độ học v n: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Hữu L và bà Hoàng Thị T; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn c m đi khỏi nơi cư trú, có mặt.
2. Bị cáo Lê Trung H1, sinh ngày 08 tháng 08 năm 1991; nơi sinh: Xã X, huyện, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; nơi cư trú: Thôn X, xã X, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; trình độ học v n: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Lê Văn T và bà Nguyễn Thị H; có vợ Nguyễn Thị N, chưa có con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn c m đi khỏi nơi cư trú, có mặt.
3. Bị cáo Diệp Minh H, sinh ngày 01 tháng 12 năm 1989; nơi sinh: Xã X, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Bảo vệ; nơi cư trú: Thôn X, xã X, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; trình độ học v n: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Diệp Minh N và bà Nguyễn Thị S; chưa có vợ, con. Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn c m đi khỏi nơi cư trú, có mặt.
4. Bị cáo Phạm Văn H2, sinh ngày 01 tháng 9 năm 1999; nơi sinh: Xã X, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Bảo vệ; nơi cư trú: Thôn X, xã X, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; trình độ học v n: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Phạm Văn N và bà Nguyễn Thị L, chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn c m đi khỏi nơi cư trú, có mặt.
- Người làm chứng:
+ Anh Hà Xuân T, địa chỉ: Thôn X, xã X, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt;
+ Anh Nguyễn Cao H, địa chỉ: Thôn X, xã X, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, có mặt;
+ Anh Phạm Xuân H, địa chỉ: Thôn X, xã X, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 29 tháng 7 năm 2021, Diệp Minh H và Lê Trung H1 đến quán bi da, cà phê của Nguyễn Hữu P để chơi uống nước. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, P, H, H1 cùng rủ nhau đánh bài tu lơ khơ ăn tiền bằng hình thức chơi mậu binh. Từ bộ bài tu lơ khơ 52 quân bài chia cho mỗi người chơi 13 (mười ba) quân bài. Tỉ lệ cá cược được quy định mỗi chi 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng), mậu binh thì mỗi người thua phải trả 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng), ai có bài to nh t thì ăn cả. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, Phạm Văn H2 đến quán chơi bi da, th y ba người trên đánh bài ăn tiền, H2 có ngồi xem một lúc rồi sau đó xin vào chơi cùng và được P, H, H1 đồng ý cho chơi.
Quá trình Phi, H, H1 và H2 đánh bạc chỉ sử dụng tiền mặt, không sử dụng đồ vật, tài sản nào khác, không cầm cố tài sản để đánh bạc, không tổ chức thu tiền xâu.
Vào lúc 22 giờ 50 phút ngày 29 tháng 7 năm 2021, khi P, Hải, H1 và H2 đang đánh bạc thì Công an huyện Quảng Ninh vào bắt quả tang, thu giữ trên chiếu bạc số tiền 17.450.000 đồng (mười bảy triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng) tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam, trong đó tiền của P 4.500.000 đồng (bốn triệu năm trăm nghìn đồng), tiền của H1 4.500.000 đồng (bốn triệu năm trăm nghìn đồng), tiền của H 5.000.000 đồng (năm triệu đồng), tiền của H2 3.450.000 đồng (ba triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng) và 04 (bốn) bộ bài tu lơ khơ loại 52 (năm mươi hai) quân bài, trong đó có 02 (hai) bộ bài đã được P, H1, H, H2 dùng để đánh bạc và 02 (hai) bộ bài tu lơ khơ chưa sử dụng.
Về vật chứng: Ngày 29 tháng 7 năm 2021, Cơ quan điều tra đã thu giữ trên chiếc bạc 17.450.000 đồng (mười bảy triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng) và 04 (bốn) bộ bài tu lơ khơ loại 52 (năm mươi hai) quân bài, trong đó gồm 02 (hai) bộ bài đã qua sử dụng và 02 (hai) bộ bài chưa sử dụng.
Ngoài ra còn thu giữ:
+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG J7 PRO màu đen, đã qua sử dụng của Nguyễn Hữu Phi;
+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE XI màu xanh, có ốp da màu xanh đậm, điện thoại đã qua sử dụng của Diệp Minh H;
+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE XI PROMAX màu đen, điện thoại đã qua sử dụng của Lê Trung H1;
+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 8 PLUS màu đỏ, có ốp nhựa màu đen, điện thoại đã qua sử dụng của Phạm Văn H2.
Ngày 16 tháng 9 năm 2021, Cơ quan điều tra đã trả lại toàn bộ điện thoại và gi y tờ trên cho các bị cáo Nguyễn Hữu P, Diệp Minh H, Lê Trung H1 và Phạm Văn H2 là chủ sở hữu.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Bản Cáo trạng số 37/CT-VKS-TA, ngày 08-11-2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh truy tố bị cáo Nguyễn Hữu P và đồng phạm phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh giữ quyền công tố luận tội và đề nghị: Giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo theo toàn bộ nội dung bản Cáo trạng, có xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân đối với các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Hữu P, Lê Trung H1, Diệp Minh H, Phạm Văn H2; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Hữu P, Diệp Minh H, Phạm Văn H2. Xử phạt Nguyễn Hữu P, Lê Trung H1, Diệp Minh H và Phạm Văn H2 phạt tiền từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu sung công quỹ số tiền 17.450.000 đồng (mười bảy triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng) và 04 (bốn) bộ bài tu lơ khơ loại 52 (năm mươi hai) quân bài, trong đó, gồm 02 (hai) bộ bài đã qua sử dụng và 02 (hai) bộ bài chưa sử dụng.
Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như quan điểm luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; các bị cáo nh t trí với đề nghị mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát huyện Quảng Ninh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Quảng Ninh, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hữu P, Lê Trung H1, Diệp Minh H và Phạm Văn H2 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các Bị cáo thống nh t, hoàn toàn phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác; với các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án; phù hợp về thời gian, địa điểm và quá trình diễn biến của vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở để xác định: Vào lúc 22 giờ 50 phút, ngày 29 tháng 7 năm 2021, các bị cáo Nguyễn Hữu P, Lê Trung H1u, Diệp Minh H và Phạm Văn H2 đánh bạc trái phép bằng hình thức mậu binh tại quán bi da, cà phê của Nguyễn Hữu P, thì bị Công an phát hiện, bắt quả tang, thu giữ tại chiếu bạc 17.450.000 đồng. Các bị cáo thực hiện do lỗi cố ý; đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Do đó, hành vi đủ yếu tố c u thành tội đánh bạc, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh truy tố và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ pháp luật, đúng thực tế khách quan.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng trên địa bàn, gây tâm lý hoang mang, lo lắng và ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt của người dân. Các bị cáo là những người có sức khoẻ, có nhận thức nhưng không chịu khó lao động, rèn luyện để trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội mà ngược lại thích ăn chơi, sát phạt nhau, tư lợi và mục đích là nhằm tước đoạt tiền bạc, tài sản của nhau. Do đó, cần phải xử lý nghiêm, tương ứng với tính ch t vụ án mới có tác dụng cải tạo, giáo dục và để răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, cũng xem xét các tình tiết khác đối với các bị cáo để quyết định mức hình phạt phù hợp.
Các bị cáo Nguyễn Hữu P, Lê Trung H1, Diệp Minh H và Phạm Văn H cùng rủ nhau đánh bạc, không có sự chuẩn bị, bàn bạc, phân công cụ thể nên phải chịu trách nhiệm hình sự tương đương nhau.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Bị cáo Phạm Văn H2 có thời gian tham gia nghĩa vụ Công an nhân dân, bị cáo Nguyễn Hữu P có bố được nhà nước tặng Huân chương kháng chiến, mẹ bị cáo Diệp Minh H được Bộ giáo dục và đào tạo tặng Huy chương vì sự nghiệp giáo dục nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét th y, các bị cáo Nguyễn Hữu P, Lê Trung H1, Diệp Minh H và Phạm Văn H2 phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt nên chưa cần thiết cách ly ra khỏi xã hội mà cần áp dụng Điều 35 của Bộ luật hình sự, xử phạt hình phạt tiền đối với các bị cáo là hoàn toàn phù hợp.
Trong vụ án này, có Hà Xuân T, Nguyễn Cao H và Phạm Xuân H ngồi chơi, đánh bi da, uống nước ở trong quán nhưng không tham gia đánh bạc nên không truy cứu trách nhiệm hình sự.
Về vật chứng vụ án: Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG J7 PRO màu đen, đã qua sử dụng của Nguyễn Hữu P; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE XI màu xanh, có ốp da màu xanh đậm, điện thoại đã qua sử dụng của Diệp Minh H; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE XI PROMAX màu đen, điện thoại đã qua sử dụng của Lê Trung H1; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 8 PLUS màu đỏ, có ốp nhựa màu đen, điện thoại đã qua sử dụng của Phạm Văn H2. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trả cho chủ sở hữu là đúng quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét. Số tiền cơ quan Công an thu giữ tại chiếu bạc 17.450.000 đồng (mười bảy triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng) cần tịch thu sung công quỹ nhà nước; 04 (bốn) bộ bài tu lơ loại 52 (năm mươi hai) quân bài, trong đó, gồm 02 (hai) bộ bài đã qua sử dụng và 02 (hai) bộ bài chưa sử dụng cần tịch thu tiêu hủy là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Hữu P, Lê Trung H1, Diệp Minh H và Phạm Văn H2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự, khoản 1 Điều 268, khoản 1 Điều 269, điểm g khoản 2 Điều 260, khoản 1 Điều 298, khoản 1 và khoản 4 Điều 331, Điều 333, Điều 414, Điều 423 của Bộ luật tố tụng hình sự.
1. Về tội danh và hình phạt:
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Hữu P, Lê Trung H1, Diệp Minh H và Phạm Văn H2 phạm tội “Đánh bạc”;
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu P phạt tiền 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng). Thời hạn ch p hành hình phạt tiền tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Trung H1 phạt tiền 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng). Thời hạn ch p hành hình phạt tiền tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Diệp Minh H phạt tiền 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng). Thời hạn ch p hành hình phạt tiền tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Văn H2 phạt tiền 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng). Thời hạn ch p hành hình phạt tiền tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tuyên tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 17.450.000 đồng (mười bảy triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng) được niêm phong trong 01 (một) phong bì gi y đã được dán kín các mép; tịch thu tiêu hủy 04 (bốn) bộ bài tu lơ có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quảng Ninh và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Ninh ngày 10-11-2021.
3. Án phí hình sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Nguyễn Hữu P, Lê Trung H1, Diệp Minh H và Phạm Văn H2 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Quảng Ninh; - Công an huyện Quảng Ninh; - Các bị cáo; - Những người TGTT khác; - Chi cục THA huyện Quảng Ninh; - Cơ quan THAHS huyện Quảng Ninh; - TAND tỉnh Quảng Bình; - Cơ quan THAHS tỉnh Quảng Bình; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Nhàn |