- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn Dũng - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật hình sự phạt tù; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG ẢNG TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2021/HSST Ngày: 24-3-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG ẢNG - TỈNH ĐIỆN BIÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Phương.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lưu Tuấn Cường
2. Ông Nguyễn Văn Hùng
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn thế Lục - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng tham gia phiên toà: Ông Vũ Văn Tuân - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 24 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở, TAND huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 41/2021/TLST-HS, ngày 26 tháng 02 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2021/QĐXXST-HS, ngày 11/3/2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn D; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm 1977, nơi sinh: tại huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên; Cư trú tại: Bản ND, xã BL, huyện MA, tỉnh Điện Biên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hoá: 3/12; Bố đẻ: Lò Văn L (đã chết); mẹ đẻ Lường Thị Y (đã chết); Bị cáo có 13 anh chị em ruột, bị cáo là con thứ 06 trong gia đình; Bị cáo có vợ là Lò Thị D, sinh năm 1979 và có 02 người con, con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2001; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Chưa bị kết án; chưa bị xử lý hành chính.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/11/2020. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Họ và tên: Lò Văn T, sinh năm 1983
Nơi cư trú: Bản ND, xã BL, huyện MA, tỉnh Điện Biên (vắng mặt).
2. Họ và tên: Lò Văn N, sinh năm 1992
Nơi cư trú: Bản ND, xã BL, huyện MA, tỉnh Điện Biên (vắng mặt).
3. Họ và tên: Lường Văn T, sinh năm 1971
Nơi cư trú: Bản ND, xã BL, huyện MA, tỉnh Điện Biên (vắng mặt).
4. Họ và tên: Lường Văn T, sinh năm 1979
Nơi cư trú: Bản XT 2, xã BL, huyện MA, tỉnh Điện Biên (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, bị cáo Lò Văn D bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Sau khi vay được 100.000đ của Lường Văn T, khoảng 20 giờ ngày 12/11/2020 tại quán Thanh – Hải thuộc bản Nà Dên, xã Búng Lao, Lò Văn D rủ Lò Văn T đi tìm mua ma túy sử dụng, D đưa cho Lò Văn T 50.000đ. Lò Văn T đồng ý và lấy xe chở Dũng đi đến nhà Lường Văn T, sinh năm 1979, Nơi cư trú: Bản Xuân Tre 2, xã Búng Lao, huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên hỏi mua ma túy nhưng không được. Lò Văn T tiếp tục chở D đi, trên đường đi khoảng được 100 mét thì xe hết xăng, Lò Văn T đã gọi điện cho Lò Văn N, sinh năm 1992, cư trú tại bản ND, xã BL, huyện MA xuống đón D về. N đến chở D về, trên đường về thì N gặp một người đàn ông dân tộc Thái không quen biết, qua trao đổi N mua được 01 gói nhỏ Heroine, gói bắng túi nilon màu hồng với giá 50.000đ. Khi mua được gói Heroine N đưa D cầm, D đồng ý và ngồi sau xe N chở về. Khi đi đến đoạn đường thuộc bản ND, xã BL, huyện MA thì D bảo N dừng xe để tìm chỗ sử dụng ma túy, thì gặp tổ công tác Công an xã Búng Lao làm nhiệm vụ, qua kiểm tra phát hiện trong lòng tay trái của D có 01 gói nhỏ Heroine có khối lượng 0,12 gam, tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng để xác minh làm rõ.
Theo biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định ngày 13/11/2020 của Công an huyện Mường Ảng và Kết luận giám định số 1001/GĐ-PC09, ngày 23 tháng 11 năm 2020 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận:
- Mẫu chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ của Lò Văn D gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine;
- Khối lượng vật chứng thu giữ của Lò Văn D là 0,12 gam.
- Heroine nằm trong danh mục các chất ma túy, STT: 09, Mục IA, Danh mục I, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018.
Tại bản cáo trạng số: 16/CT-VKS-MA ngày 26/02/2021 của Viện kiểm sát nhân dân Huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên đã truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Mường Ảng để xét xử bị cáo Lò Văn D về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên toà, vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo D: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1 Điều 51 và khoản 1,2,5 điều 65 của BLHS xử phạt bị cáo Lò Văn D từ 12 đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Áp dụng khoản 4 Điều 328 của Bộ luật tố tụng hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử trả tự do cho bị cáo Lò Văn D tại phiên tòa ngày hôm nay, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tịch thu để tiêu hủy 0,06 gam Heroine là vật chứng còn lại của vụ án sau khi trích mẫu gửi giám định; Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu SAMSUNG J2, màu hồng nhạt, đã cũ qua sử dụng, kèm theo 02 sim Viettel.
Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí. Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015; điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí HSST cho bị cáo.
Bị cáo D thừa nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như cáo trạng truy tố. Bị cáo nhất trí nội dung bản Cáo trạng cũng như bản luận tội của VKSND huyện Mường Ảng, bị cáo không có tranh luận gì. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Nội dung vụ án:
Qua phần tranh tụng công khai tại phiên tòa bị cáo Lò Văn D đã khai và công nhận: Hồi 21 giờ ngày 12/11/2020, tại đoạn đường thuộc bản ND, xã BL, huyện MA, tỉnh Điện Biên bị cáo bị bắt quả tang đang tàng trữ trái phép 0,12 gam Heroine, nhằm mục đích để sử dụng. Lời khai nhận tội của bị cáo trước phiên tòa ngày hôm nay phù hợp với các tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ, cũng như cáo trạng số 16/CT-VKSMA, ngày 26/02/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng đã truy tố.
Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; Bị cáo tàng trữ trái phép 0,12 gam Heroine đủ định lượng buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn thực hiện. Do vậy Hội đồng xét xử có đủ căn cứ pháp lý để xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại khoản 1 Điều 249 BLHS quy định: “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
...c) Heroine … có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 5 gam".
[2]Xét về tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp tội phạm nghiêm trọng, gây nguy hại lớn cho xã hội có mức cao nhất của khung hình phạt đến 5 năm tù, được quy định tại khoản 1 Điều 9 Bộ luật hình sự năm 2015. Vì vậy bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội đã gây ra.
Xét về hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm trực tiếp đến sự độc quyền của nhà nước trong lĩnh vực quản lý và sử dụng các chất ma túy, đã tiếp tay cho các loại tội phạm gia tăng, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn, cần phải được xử lý nghiêm.
Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo D sinh ra và lớn lên tại huyện MA, được bố mẹ nuôi cho ăn học hết lớp 3/12 thì nghỉ học ở nhà lao động sản xuất cung gia đình. Năm 1997 kết hôn với chị Lò Thị D và có 02 người con chung. Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo nhận thức rõ việc tàng trữ, mua bán ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân bị cáo đi vào con đường phạm tội. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo; tuy nhiên, tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo thể hiện sự ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình và bị cáo đã tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án (Được thể hiện trong nội dung Công văn số 170/CV, ngày 08/02/2021 của Cơ quan CSĐT Công an huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên), nên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, t khoản 1 Điều 51 của BLHS năm 2015. Bị cáo không phạm các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của BLHS năm 2015.
Từ những phân tích, nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra là cần thiết để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người sống có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, bản thân bị cáo đã ăn năn hổi cải về hành vi phạm tội của mình. Để tạo điều kiện cho bị cáo học tập, lao động trong cộng đồng xã hội và cũng thể hiện chính sách giáo dục hơn trừng trị của pháp luật hình sự Việt Nam đối với người phạm tội. Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1,2,5 Điều 65 của Bộ luật hình sự phạt tù cho bị cáo hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách để bị cáo có điều kiện làm ăn sinh sống, nuôi bản thân và gia đình.
Bị cáo D với nghề nghiệp làm ruộng, gia đình bị cáo khó khăn về kinh tế, không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung bằng tiền, do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Nguồn gốc số Heroine bị cáo khai do Lò Văn N mua của một người đàn ông dân tộc Thái không quen biết, rồi đưa cho bị cáo cầm. Quá trình điều tra, tiến hành đối chất N không thừa nhận, ngoài lời khai của bị cáo không còn tài liệu, chứng cứ nào khác nên Cơ quan điều tra không đủ cơ sở làm rõ đối với Nọi và người đàn ông dân tộc Thái.
- Đối với Lường Văn T đã cho bị cáo vay tiền 100.000đ, nhưng không biết bị cáo dùng tiền vào việc mua ma túy, nên không xem xét xử lý.
- Đối với Lò Văn T quá trình điều tra đã thừa nhận có chở bị cáo D đi tìm mua ma túy cùng sử dụng nhưng không mua được, Thắm không thừa nhận được cầm số tiền 50.000đ bị cáo đưa cho để tìm mua ma túy. Do vậy chưa đủ căn cứ xử lý đối với Lò Văn T.
- Đối với Lường Văn T, theo lời khai của Lò Văn T trước đó đã bán ma túy cho Lò Văn T sử dụng, đến ngày 12/11/2020 T và bị cáo D tiếp tục vào mua nhưng không mua được, hiện tại Lò Văn T đi đâu làm gì không rõ. Do vậy chưa đề cập xử lý.
Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu để tiêu hủy 0,06 gam Heroine là vật chứng còn lại của vụ án sau khi trích mẫu gửi giám định; Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu SAMSUNG J2, màu hồng nhạt, đã cũ qua sử dụng, kèm theo 02 sim Viettel.
Án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí. Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015; điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Hội đồng xét xử miễn án phí HSST cho bị cáo.
Quyết định truy tố của VKSND huyện Mường Ảng; ý kiến của vị đại diện VKS, ý kiến của bị cáo qua phần tranh tụng công khai tại phiên tòa về tội danh, hình phạt và các vấn đề khác liên quan đến vụ án. Hội đồng xét xử thấy phù hợp với nội dung vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.
Trong quá trình điều tra, truy tố: Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng qui định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1 Điều 51 và khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Lò Văn D 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (24/3/2021).
Áp dụng khoản 4 Điều 328 của Bộ luật tố tụng hình sự: Trả tự do cho bị cáo Lò Văn D tại phiên tòa ngày hôm nay, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
Giao bị cáo Lò Văn D cho UBND xã BL, huyện MA, tỉnh Điện Biên giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã BL để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo Lò Văn Dũng thay đổi nơi cư trú trong phạm vi huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên thì Ủy ban nhân dân xã BL - huyện MA - tỉnh Điện Biên có trách nhiệm thông báo cho cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Mường Ảng để làm thủ tục chuyển giao hồ sơ thi hành án treo cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người được hưởng án treo đến cư trú để giám sát, giáo dục.
Trường hợp Lò Văn D thay đổi nơi cư trú ngoài phạm vi huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có trách nhiệm làm thủ tục chuyển hồ sơ thi hành án treo cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người được hưởng án treo đến cư trú để tổ chức việc thi hành án theo quy định tại Điều 68 của Luật thi hành án hình sự năm 2019 và thông báo bằng văn bản cho Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS.
- Tịch thu để tiêu hủy 0,06 gam Heroine là vật chứng còn lại của vụ án sau khi trích mẫu gửi giám định.
- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu SAMSUNG J2, màu hồng nhạt, đã cũ qua sử dụng, kèm theo 02 sim Viettel.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Mường Ảng và Chi Cục thi hành án dân sự huyện Mường Ảng lập ngày 26/02/2021).
3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015; điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Miễn án phí HSST cho bị cáo.
4. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (24/3/2021).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại UBND cấp xã nơi cư trú.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Điện Biên - VKSND tỉnh Điện Biên - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên - VKSND h.Mường Ảng - Công an h.Mường Ảng - Chi cục THADS h.Mường Ảng - UBND xã BL. - Bị cáo. - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Lưu hồ sơ. q | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Văn Phương |