vanban.org

Bản án 41/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 09/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố bị cáo Phạm Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

[2] Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Phạm Văn K 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 18/6/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Pham Văn K - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố bị cáo Phạm Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CƯ JÚT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐĂK NÔNG
Bản án số: 41/2021/HSST
Ngày: 09/11/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ JÚT, TỈNH ĐĂK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Thơm và ông Hà Hữu Tài.

-Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Trung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đăk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hữu Ái - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đăk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 42/2021/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2021/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Văn K, sinh năm 1973 tại N; nơi cư trú: thôn N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn K, sinh năm 1947 và bà Nguyễn Thị H (đã chết); có vợ Trần Thị P, sinh năm 1977 và 03 con (lớn nhất sinh năm 1997, nhỏ nhất sinh năm 2005); tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 18/06/2021 - có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1/ Công ty TNHH MTV xe máy P; Địa chỉ: Thôn 03, xã T, huyện C, tỉnh Đ. Người đại diện theo pháp luật: Ông Trịnh Viết T, sinh năm 1976 - vắng mặt.

2/ Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1984; Địa chỉ: Tổ dân phố 5, thị trấn Q, huyện C, tỉnh Đ - vắng mặt.

Người chứng kiến:

1/ Bà Phạm Thị H, sinh năm 1953; Địa chỉ: Thôn 02, xã T, huyện C, tỉnh Đ - vắng mặt.

2/ Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1979; Địa chỉ: Thôn 02, xã T, huyện C, tỉnh Đ - vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 18/6/2021, Phạm Văn K điều khiển xe mô tô biển kiểm soát (BKS) 47P5-5165 đi từ khu công nghiệp Tâm Thắng, huyện Cư Jut, tỉnh Đăk Nông đến xã Trúc Sơn, huyện Cư Jut, tỉnh Đăk Nông tìm mua ma túy để sử dụng. Khi đến nhà người tên B ở xã T, huyện C, tỉnh Đ, K nói muốn mua 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng ma túy loại Heroine thì B đồng ý và đưa cho K 01 (một) gói nhỏ bên ngoài bọc bằng giấy bạc màu vàng. Sau khi nhận được gói giấy bạc màu vàng, K cất gói ma túy vừa mua được vào trong túi áo ngực bên trái phía trước đang mặc trên người rồi điều khiển xe đi về hướng xã Tâm Thắng, huyện Cư Jut, tỉnh Đăk Nông để đi làm. Khi đang điều khiển xe đi trên đường bê tông thuộc thôn 02, xã Trúc Sơn, huyện Cư Jut thì thấy có lực lượng Công an nên K điều khiển xe chạy đến đầu đường ngã tư đường bê tông đứng đợi để lực lượng Công an đi qua rồi tiếp tục đi. Đến 07 giờ 15 phút cùng ngày, thấy K đứng một mình có biểu hiện nghi vấn nên lực lượng Công an đến kiểm tra phát hiện ở trong túi áo ngực bên trái phía trước mà K đang mặc trên người có 01 (một) gói giấy bạc màu vàng bên trong có chất màu trắng nghi là Heroin; 02 (hai) bơm kim tiêm loại 3ml/cc đã qua sử dụng, 01 (một) ống nước cất loại 2ml chưa qua sử dụng và 01 (một) ống nước cất loại 2ml đã qua sử dụng (chỉ còn vỏ thủy tinh) ở trong ví da màu đen trong túi quần bên phải phía sau mà K đang mặc trên người. Sau đó, lực lượng Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng theo quy định.

Trong quá trình điều tra, truy tố, Phạm Văn K đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.

Vật chứng:

- 01 (một) gói giấy bạc màu vàng bên trong có chứa chất màu trắng nghi là ma túy heroine được thu giữ trong túi áo ngực bên trái phía trước mà Phạm Văn K đang mặc trên người được niêm phong trong một phong bì thư có chữ ký xác nhận của Phạm Văn K, Phạm Thị H, Nguyễn Thị H và dấu tròn đỏ của Công an xã Trúc Sơn;

- 02 (hai) bơm kim tiêm loại 3ml/cc đã qua sử dụng, 01 (một) ống nước cất loại 2ml chưa qua sử dụng, 01 (một) ống nước cất loại 2ml đã qua sử dụng thu giữ trong ví da màu đen ở trong túi quần phía sau bên phải mà Phạm Văn K đang mặc trên người được niêm phong trong một phong bì thư có chữ ký xác nhận của Phạm Văn K, Phạm Thị H, Nguyễn Thị H và dấu tròn đỏ của Công an xã Trúc Sơn;

- 01 (một) ví da màu đen của Phạm Văn K;

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave mang BKS 47P5-5165.

Tại bản kết luận giám định số 96/KLMT-PC09 ngày 23/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đăk Nông kết luận: Chất rắn màu trắng dạng cục đựng trong 01(một) gói giấy bạc màu vàng được niêm phong trong bì thư gửi giám định là ma túy, có khối lượng mẫu là 0,1472 gam; là Heroine. Chất rắn màu trắng trong bì thư hoàn lại sau giám định có khối lượng mẫu là 0,1089 gam.

Bản cáo trạng số 42/CTr-VKS ngày 30 tháng 9 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút truy tố bị cáo Phạm Văn K về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Kết quả xét hỏi tại phiên tòa bị cáo Phạm Văn K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Về trách nhiệm hình sự:

+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Đề nghị tuyên phạt bị cáo Phạm Văn K từ 15 (mười lăm) đến 18 (mười tám) tháng tù.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng các Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

- Tịch thu tiêu hủy: 0,1089 gam Heroine còn lại sau giám định được đựng trong 01 gói ziper chỉ đỏ có kích thước (4x6) cm, gói ziper trên và gói giấy bạc đựng mẫu gửi giám định được để trong 01 bì thư có kích thước (11x17)cm, mặt trước bì thư có ký hiệu 96/PC09 và ghi mẫu hoàn trả, mặt sau bì thư được dán kín có chữ ký giáp lai của giám định viên, trợ lý giám định, đại diện Công an huyện Cư Jut và dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đắk Nông; 02 (hai) bơm kim tiêm loại 3ml/cc đã qua sử dụng, 01 (một) ống nước cất loại 2ml chưa qua sử dụng, 01 (một) ống nước cất loại 2ml đã qua sử dụng; 01 ví da màu đen đã qua sử dụng;

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave mang BKS 47P5-5165.

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng không có ý kiến gì. Bị cáo không bào chữa và cũng không tranh luận gì thêm mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi của Điều tra viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cư Jút, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối với hành vi của bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng:

Vào lúc 07 giờ 15 phút ngày 18/6/2021, tại đoạn đường bê tông thuộc thôn 02, xã Trúc Sơn, huyện Cư Jut, tỉnh Đăk Nông, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cư Jut kiểm tra phát hiện ở trong túi áo ngực bên trái phía trước mà bị cáo Phạm Văn K đang mặc trên người có 01 (một) gói giấy bạc màu vàng bên trong có chất màu trắng. Theo kết luận giám định của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đăk Nông: Chất rắn màu trắng dạng cục đựng trong 01(một) gói giấy bạc màu vàng được niêm phong trong bì thư gửi giám định là ma túy, có khối lượng mẫu là 0,1472 gam; là Heroine. Do đó đã đủ cơ sở kết luận bị cáo Phạm Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) như cáo trạng đã truy tố.

Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản suất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

…………………..

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.

…………………

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự công cộng và ảnh hưởng xấu đến sự phát triển lành mạnh của xã hội. Mặt khác nó còn là một trong những nguyên nhân gây ra các loại tội phạm khác. Bản thân bị cáo nhận thức được heroin là chất gây nghiện nguy hiểm, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị Nhà nước nghiêm cấm, nhưng để có ma túy sử dụng nhằm thỏa mãn cho nhu cầu bất chính của bản thân, bị cáo vẫn cố ý phạm tội chứng tỏ ý thức xem thường pháp luật của bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Tuy nhiên xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave mang BKS 47P5-5165 mà bị cáo Phạm Văn K sử dụng để đi mua ma túy theo bị cáo khai mua lại của Công ty TNHH MTV xe máy P (địa chỉ: Thôn 03, xã T, huyện C, tỉnh Đ) vào ngày 30/01/2020, hai bên chỉ viết giấy tay mua bán. Qua xác minh xe trên do chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1984 [địa chỉ: Khối 5 (nay là tổ dân phố 5), Q, C, Đ] đứng tên, nhưng hiện nay chị T không có mặt tại địa phương do đó không thể tiến hành lấy lời khai. Theo ông Trịnh Viết T - giám đốc và là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH MTV xe máy P cho biết ông mua xe máy BKS 47P5-5165 của một người tên T, khi mua hai bên chỉ viết giấy tay mua bán, kèm theo giấy đăng ký xe bản gốc (hiện nay đã bị thất lạc). Do đó cần giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Cư Jút truy tìm chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe này trong thời hạn 01 năm, trường hợp xác định được chủ sở hữu thì trả lại cho chủ sở hữu, trường hợp không xác định được chủ sở hữu thì tịch thu sung quỹ Nhà nước theo Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- 01 ví da màu đen (chiếc ví không có giá trị và bị cáo không yêu cầu nhận lại), 02 (hai) bơm kim tiêm loại 3ml/cc đã qua sử dụng, 01 (một) ống nước cất loại 2ml chưa qua sử dụng, 01 (một) ống nước cất loại 2ml đã qua sử dụng là vật không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

- Đối với chất rắn màu trắng trong bì thư hoàn lại cơ quan trưng cầu sau giám định có khối lượng mẫu là 0,1089 gam là tang vật của vụ án, thuộc loại vật cấm tàng trữ, lưu hành, nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Đối với việc bị cáo khai ngày 17/6/2021 và ngày 18/6/2021 mua ma túy của người tên B ở xã T, huyện C, tỉnh Đ, Cơ quan CSĐT Công an huyện Cư Jút đã xác minh và triệu tập người có tên Trần Xuân B, trú tại thôn 02, xã T, huyện C, tỉnh Đ lên làm việc, đối chất với bị cáo nhưng B không thừa nhận đã bán ma túy cho bị cáo, nên chưa có đủ căn cứ để chứng minh hành vi bán ma túy của Bá. Cơ quan CSĐT Công an huyện Cư Jút sẽ tiếp tục điều tra xác minh làm rõ, khi nào có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.

Ma túy mà bị cáo khai mua vào ngày 17/6/2021, bị cáo đã sử dụng hết, cơ quan CSĐT Công an huyện Cư Jút không thu giữ được nên không có căn cứ để xử lý.

Về án phí: Bị cáo Phạm Văn K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Xét những chứng cứ buộc tội bị cáo, yêu cầu, đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa đưa ra phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo nên HĐXX cần xem xét khi quyết định mức hình phạt.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

[1] Tuyên bố bị cáo Phạm Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

[2] Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Phạm Văn K 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 18/6/2021.

[3] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46; Điều 47; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

+ Tịch thu tiêu hủy: 0,1089 gam Heroine còn lại sau giám định được đựng trong 01 gói ziper chỉ đỏ có kích thước (4x6) cm, gói ziper trên và gói giấy bạc đựng mẫu gửi giám định được để trong 01 bì thư có kích thước (11x17)cm, mặt trước bì thư có ký hiệu 96/PC09 và ghi mẫu hoàn trả, mặt sau bì thư được dán kín có chữ ký giáp lai của giám định viên, trợ lý giám định, đại diện Công an huyện Cư Jut và dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đắk Nông; 02 (hai) bơm kim tiêm loại 3ml/cc đã qua sử dụng, 01 (một) ống nước cất loại 2ml chưa qua sử dụng, 01 (một) ống nước cất loại 2ml đã qua sử dụng; 01 ví da màu đen đã qua sử dụng;

+ Giao xe mô tô biển kiểm soát 47P5-5165, nhãn hiệu WAVE, số máy HC12E0316927, số khung HC12008Y650828 cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cư Jút để thông báo công khai truy tìm chủ sở hữu của xe mô tô trong thời hạn 01 năm, nếu xác định được chủ sở hữu thì trả lại xe cho chủ sở hữu, trường hợp không xác định được chủ sở hữu thì tịch thu sung quỹ Nhà nước.

(Đặc điểm vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Công an huyện Cư Jút với Chi cục Thi hành án huyện Cư Jút ngày 01/10/2021).

[4] Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Phạm Văn K phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[5] Quyền kháng cáo: Bị cáo Phạm Văn K có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH MTV xe máy P và chị Nguyễn Thị T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ