vanban.org

Bản án 41/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 01/02/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Cố ý gây thương tích”

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Văn K phải bồi thường cho ông Hàn Văn D số tiền 24.073.000 đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Cố ý gây thương tích”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIÊN DU
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2021/HS-ST
Ngày 01-02-2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thế Lai

Bà Đào Thị Thu

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Thành-Thư ký TAND huyệ n Tiên Du

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyệ n Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Việt – Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 02 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Du xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 08/2020/TLST-HS ngày 22/10/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2020/QĐXXST-HS ngày 05/11/2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn K, sinh năm 1983; Nơi ĐKHKTT: Thôn A, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giớ i tí nh: Nam; Tôn giá o: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn K1, sinh năm 1959 và con bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1962; Có vợ Hoàng Thị H, sinh năm 1988 (đã ly hôn) và có 02 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 08/7/2020 đến nay. Hiện đang tại ngoại – Có mặt

*Bị hại: Ông Hàn Văn D, sinh năm 1959 (có mặt)

HKTT: thôn A, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1959 (có mặt)

- Anh Hàn Văn T, sinh năm 1987 (có mặt)

HKTT: Thôn A, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh

*Người làm chứng:

- Bà Hàn Thị T1, sinh năm 1955 (có mặt)

- Chị Hàn Thị C, sinh năm 1991 (vắng mặt)

- Chị Nguyễn Thị Thùy T2, sinh năm 1989 (có mặt)

- Chị Nguyễn Thị S, sinh năm 1988 (có mặt)

HKTT: Thôn A, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh

- Ông Hoàng Văn M – Bác sĩ Bệnh viện đa khoa Kinh Bắc (vắng mặt)

Địa chỉ: Số 310 T, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh

NỘ I DNG VỤ Á N:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Gia đình ông Hàn Văn D và Nguyễn Văn K ở cùng thôn A, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh là hàng xóm và có đất giáp ranh với nhau. Quá trình gia đình ông D xây nhà thì xảy ra mâu thuẫn trong việc xác định mốc giới đất với K. Cụ thể ngày ngày 23/3/2020, khi gia đình ông D khởi công xây nhà thì gia đình K ngăn cản không cho xây vì cho rằng gia đình ông D đã múc móng lấn sang phần đất của gia đình K. Sự việc tranh chấp đã được chính quyền thôn A và UBND xã L hòa giải nhưng không thành. UBND xã L đã tiến hành kiểm tra, đo đạc và xác định hộ gia đình ông D sử dụng đất đúng với thực trạng đất được thể hiện trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp. Khi được UBND xã xác định tình trạng sử dụng đất là đúng, gia đình ông D tiếp tục thi công phần móng của ngôi nhà.

Khoảng 7 giờ 00 phút ngày 17/4/2020 khi gia đình ông D đang T hành thi công xây dựng phần móng nhà thì bà Nguyễn Thị N (mẹ của K) đã ra chửi và lấy tay hất đất xuống móng nhà ông D nhằm ngăn cản không cho gia đình ông D xây dựng nhà. Sau đó bà N đi làm và nói với K “Nhà ông D đang làm con về xem thế nào”. K điều khiển xe mô tô từ chỗ làm về nhà rồi đi bộ sang khu đất đang xây dựng nhà ông D. Tại đây, K thấy ông D và nhóm thợ xây gồm các anh Nguyễn Văn Đàn, Nguyễn Văn D2, Nguyễn Văn N1, Nguyễn Văn N2 đang làm sắt ở dưới móng nhà thì K đi xuống khu móng rồi lấy tay hất dầm sắt, yêu cầu nhóm thợ xây không được làm nữa. Nhóm thợ xây dừng việc và lên sân nhà ông D ngồi uống nước. Sau đó ông D gọi điện cho ông Đặng Đình H là dân phòng của thôn nhờ ông H1 đến giải quyết. K cũng ra trụ sở thôn A để báo về việc gia đình ông D xây dựng. Một lúc sau thì ông H và anh Đặng Đình S là dân phòng của thôn đến và giải thích cho các bên là phải xây dựng đúng phần đất của gia đình mình rồi ông H và anh S đi về.

Sau đó ông D có xuống đặt lại dầm sắt vừa bị K đẩy lúc trước thì K cũng đi xuống. Thấy vậy, ông D có nói “Tao cứ làm xem thằng nào làm gì được tao” thì K liền nói lại “Tôi đứng đây xem ai làm gì thì làm”. Khi đó hai bên đứng đối điện nhau qua dầm sắt, K dùng tay, chân D, đạp dầm sắt làm dầm sắt đè vào chân ông D, ông D đẩy dầm sắt lại, hai bên D đẩy nhau. Thấy vậy bà Nguyễn Thị C là vợ ông D và chị Hàn Thị C là con gái ông D xuống lôi, kéo K ra. Trong lúc giằng co K dùng tay trái tát vào vùng đầu bà C, sau đó dùng tay phải quàng qua cổ ông D rồi kẹp, khóa chặt đầu ông D vào người mình và ghì xuống đất. Ông D dùng tay cấu vào nách phải của K. Thấy ông D bị K ghì như vậy, chị Nguyễn Thị Thu T2 là con dâu ông D chạy đến cùng bà C, chị C lôi kéo K ra rồi đẩy lên đường bê tông. Lúc này khoảng 9 giờ 30 phút khi lên đến đường, K tiếp tục chửi bới rồi dùng tay phải nhặt 1/2 viên gạch dạng gạch xây dựng ở sát tường rào giữa nhà K và nhà ông D ném về phía ông D. Ông D lúc này vẫn đang ở dưới khu móng nhà, thấy K cầm gạch thì khom người chạy ra ụ đất gần đó để tránh nhưng không kịp nên bị K ném trúng vào đỉnh đầu. Ông D bị choáng, mất thăng bằng vịn tay vào ụ đất rồi ngồi xuống. Sự việc trên được anh Hàn Văn T là con trai ông D quay lại bằng điện thoại. Bực tức việc K đánh ông D nên anh T có dùng chân đạp vào người K, K túm được chân anh T làm anh T ngã ra đường, hai bên ôm vật nhau xuống đường. Thấy vậy mọi người can ngăn kéo cả hai ra. Sau đó K chạy về nhà lấy chiếc xẻng để quay lại đánh nhau thì được chị Nguyễn Thị S là em dâu K can ngăn và giằng xẻng lại. Ông D được gia đình đưa ra Trạm y tế xã Lạc Vệ khâu rửa vết thương rồi chuyển lên Bệnh viện đa khoa Kinh Bắc II để điều trị từ ngày 17/4/2020 đến ngày 07/5/2020 thì ra viện.

Tại Giấy chứng nhận thương tích số 18/CN ngày 08/5/2020 của Bệnh viện đa khoa Kinh Bắc II cấp cho ông Hàn Văn D xác nhận: “Vào viện lúc 10 giờ 52 phút ngày 17/4/2020, ra viện lúc 16 giờ ngày 7/5/2020. Lý do vào viện: Đau đầu. Chuẩn đoán: Theo dõi chấn thương sọ não - vết thương đỉnh đầu, thủng màng nhĩ phải. Điều trị: Chống nhiễm trùng, chống viên, giảm đau, vá màng nhĩ phải. Tình trạng thương tích lúc vào viện: Tỉnh, tiếp xúc tốt, đau đầu, sưng nề vết thương vùng đầu đã khâu (03cm). Tình trạng lúc ra viện: Tỉnh không sốt, đau đầu ít, đã cắt chỉ vết thương vùng đầu, tai phải đã vá màng nhĩ” .

Tại Bản kết luận giám định số 71/TgT ngày 29/5/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Bắc Ninh kết luận thương tích của ông Hàn Văn D như sau:

- Sẹo vùng đỉnh phải dài 2,5cm rộng 0,2cm. Áp dụng chương 8, tổn thương thương phần mềm. Phần I sẹo vết thương phần mềm. Mục 1 sẹo nhỏ = 01%.

- Khám chuyên khoa thần kinh Bệnh viện Đại học Y Hà Nội: Triệu chứng cơ năng dạng chấn động não. Áp dụng chương 1, tổn thương cơ thể do tổn thương xương sọ và hệ thần kinh. Phần II, chấn động não. Mục 1, chấn động não điều trị ổn định = 3%

- Khám chuyên khoa tai mũi họng Bệnh viện Đại học Y Hà Nội ngày 25/5/2020 sau vá màng nhĩ tai phải đo thính lực: Tai phải nghe kém hỗn hợp mức độ II (tương đương nghe kém trung bình một tai). Áp dụng chương 12, tổn thương cơ thể do tổn thương tai, mũi, họng. Phần I, tổn thương tai. Mục 2.2 nghe kém trung bình một tai = 9%

- Cơ chế là do tác động ngoại lực vật cứng.

-Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là = 13%.

Quá trình điều tra, ngày 09/6/2020 Cơ quan điều tra đã có văn bản số 284 gửi Trung tâm pháp y tỉnh Bắc Ninh đề nghị giải thích rõ: “Vết thương rách da vùng đỉnh đầu có phải là nguyên nhân tác động trực tiếp dẫn đến thương tích thủng màng nhĩ tai phải của ông Hàn Văn D không”? Tại văn bản số 39 ngày 15/6/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Bắc Ninh trả lời: “Cơ chế phải có tác động ngoại lực tạo áp lực mới gây được thủng màng nhĩ. Trong trường hợp này vết thương rách da ở vùng đầu đỉnh phải và vết thủng màng nhĩ là 02 tổn thương độc lập với nhau. Thương tích vùng đầu không thể là nguyên nhân trực tiếp như nội Dng công văn hỏi”. Ngày 11/6/2020, Cơ quan điều tra đã làm việc với Bác sỹ Hoàng Văn M - Phó khoa ngoại Bệnh viện đa khoa Kinh Bắc II xác định: “Chấn thương vùng đầu của ông Hàn Văn D có thể là nguyên nhân gây rách màng nhĩ tai phải”. Sau khi được thông báo kết luận giám định thương tích, Nguyễn Văn K cho rằng phần thương tích thủng màng nhĩ tai phải của ông D không phải do K gây ra và đề nghị giám định lại. Trên cơ sở tài liệu thu thập được có trong hồ sơ vụ án, lời khai bị hại, các nhân chứng và căn cứ quy định pháp luật thấy không có căn cứ giám định lại nên ngày 12/6/2020, Cơ quan điều tra đã có Thông báo số 457 từ chối giám định lại đối với đề nghị của K.

Ngày 20/4/2020, anh Hàn Văn T đã có tố giác K đến Cơ quan điều tra Công an huyện Tiên D và giao nộp 1/2 viên gạch kích thước (13x11x05)cm bề mặt bám dính rải rác hỗn hợp vữa xây đã khô. Khi giao nộp anh T khai nhận đây là viên gạch K đã dùng để ném gây thương tích cho ông D ngày 17/4/2020. Ngày 24/4/2020, Cơ quan CSĐT Công an huyện Tiên D đã cho K nhận dạng viên gạch K dùng để ném ông D. Quá trình nhận dạng, K đã nhận dạng đúng viên gạch mà anh T đã giao nộp. Đến ngày 04/6/2020, ông Hàn Văn D có đơn tố giác đề nghị khởi tố đối với Nguyễn Văn K. Trong quá trình điều tra vào các ngày 25 và 26 tháng 9 năm 2020, Cơ quan CSĐT Công an huyện Tiên D đã cho ông Hàn Văn D và Nguyễn Văn K T hành chỉ vị trí K dùng gạch ném ông D ngày 17/4/2020 theo lời khai của K, ông D và những người chứng kiến. Kết quả ông D và K xác định vị trí K đứng dùng gạch ném ông D cách nhau 3,5 mét.

Với nội Dng trên, Cáo trạng số 103/CT - VKS ngày 19/10/2020 của Viện kiể m sá t nhân dân huyệ n Tiên Du đã T1 tố bị cáo Nguyễn Văn K về tội“Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điề u 134 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận do gia đình nhà ông D xây móng nhà sang đất nhà bị cáo nên bị cáo cầm viên gạch ném trả sang đất nhà ông D làm trúng đầu ông D. Bị cáo thừa nhận thương tích tại đầu ông D do bị cáo ném gạch trúng. Tuy nhiên bị cáo không thừa nhận việc ông D bị thủng màng nhĩ do bị cáo gây ra. Bị cáo không nộp tiền chi phí giám định vì kết quả giám định không phải do bị cáo làm sai mà do cơ quan chuyên môn làm sai. Bị cáo không chấp nhận bồi thường dân sự cho ông D.

Bị hại ông D trình bày tại phiên tòa: Hai gia đình có mâu thuẫn tranh chấp đất nhưng UBND xã xác định nhà ông xây đúng ranh giới. Vì vậy khi bị cáo K sang ngăn cản gia đình ông D làm móng nhà nên có xảy ra xô xát. Bị cáo K đã ôm ghì vùng cổ, đầu ông D. Sau đó lấy gạch ném trúng đầu ông D. Thương tích vùng đầu và màng nhĩ tai phải do bị cáo K gây ra nên ông đề nghị xử lý bị cáo K nghiêm theo quy định pháp luật. Ông D khẳng định trước khi bị K ném gạch trúng đầu ông không bị ai gây thương tích hoặc bệnh tật gì liên quan đến vết thương thủng màng nhĩ tai phải. Đến nay ông D yêu cầu bị cáo phải bồi thường tổng số tiền là 69.476.124 đồng gồm: Chi phí viện phí chữa trị là 17.273.124 đồng, ngày công lao động bị mất do phải nằm viện 21 ngày và phục hồi tại nhà 30 ngày là 51 ngày x 400.000 đồng = 20.400.000 đồng, ngày công chăm sóc của người nhà 21 ngày x 300.000 đồng = 6.300.000 đồng, tiền ăn trong thời gian chữa bệnh của 02 người 21 ngày x 200.000 đồng = 4.200.000 đồng, tiền thuê xe taxi đưa đón = 1.300.000 đồng, chi phí phục hồi sức khỏe 10.000.000 đồng, tổn thất tinh thần 10.000.000 đồng. Ông D điều trị phẫu thuật tai hết khoảng 7 triệu đồng. Trong 21 ngày điều trị thì có 11 ngày ông D điều trị tại khoa tai mũi họng.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà C trình bày tại phiên tòa: Bà là vợ ông D. Sau khi xảy ra sự việc bà là người chăm sóc ông D trong quá trình điều trị. Bà đề nghị bị cáo bồi thường tiền công người chăm sóc, phần này tính gộp vào bồi thường cho ông D.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh T trình bày tại phiên tòa: Anh là con trai ông D, khi xảy ra sự việc anh đã dùng điện thoại quay lại. Khi phát hiện bị cáo cầm gạch ném ông D thì anh đến ngăn cản nhưng không kịp. Do bực tức việc bị cáo đánh bố đẻ anh T có dùng chân đạp vào người bị cáo, hai bên ôm vật nhau xuống đường thì mọi người can ngăn.

Người làm chứng bà T1, chị T2 trình bày tại phiên tòa: Sáng ngày 17/4/2020 thấy bị cáo K xuống D đổ dầm móng nhà. Sau đó bị cáo K ghì cổ ông D, khi được mọi người can ngăn thì bị cáo dùng gạch ném trúng vào đầu ông D gây thương tích.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa, căn cứ vào Điều 266, 298 và 325 Bộ luật tố tụng hình sự rút một phần quyết định T1 tố bị cáo theo Cáo trạng số 103/CT- VKS ngày 19/10/2020. Cụ thể tại phiên tòa rút T1 tố bị cáo K từ điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự thay đổi sang điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự. Trong phần luận tội đã phân tích nguyên nhân, tính chất, mức độ nguy hiểm cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

1/ Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

2/ Hình phạt và điều luật áp dụng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 08 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

3/ Về trách nhiệm dân sự áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 590 Bộ luật dân sự: Chấp nhận một phần yêu cầu của bị hại, buộc bị cáo Nguyễn Văn K phải bồi thường cho ông Hàn Văn D số tiền từ 21.473.124 đồng đến 24.073.124 đồng gồm chi phí viện phí chữa trị là 17.273.124 đồng, ngày công lao động bị mất từ 1.500.00 đồng đến 3.000.000 đồng; chi phí đi lại từ 1.000.000 đồng đến 1.300.000 đồng; chi phí phục hồi sức khỏe từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng; tổn thất tinh thần từ 1.200.000 đồng đến 1.500.000 đồng.

4/ Về xử lý vật chứng căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 viên gạch vỡ. Tiếp tục lưu trữ 02 đĩa DVD trong hồ sơ vụ án.

Tại phiên tòa hôm nay , bị cáo sau khi nghe luận tội của đạ i diệ n Việ n kiể m sát nhân dân huyện Tiên D, không nhận tội và không đồng ý bồi thường cho bị hại. Bị hại không đồng ý với điều luật T1 tố bị cáo và phần bồi thường thiệt hại đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

Đại diện VKS tranh luận: Căn cứ vào tài liệu thu thập như video anh T cung cấp, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thực nghiệm điều tra lời khai người làm chứng, bị hại và lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra nên xác định được bị cáo là người sử dụng viên gạch ném trúng đầu ông D ngày 17/4/2020. Đối với yêu cầu bồi thường bị cáo không chấp nhận thể hiện bị cáo không ăn năn hối cải. Đối với ý kiến của bị hại không nhất trí rút 9% tỷ lệ tổn thương cơ thể, Kiểm sát viên xác định cơ quan chuyên môn không khẳng định hành vi của bị cáo K gây thủng màng nhĩ cho ông D. Vì vậy tại phiên tòa Viện kiểm sát thay đổi quyết định T1 tố là có căn cứ, đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

NHẬ N ĐỊ NH CỦ A TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội Dng vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng thu giữ được và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ cơ sở kết luận: Xuất phát từ mâu thuẫn trong việc tranh chấp đất đai nên khoảng 9 giờ 30 phút ngày 17/4/2020 tại khu đất đang xây dựng của gia đình ông Hàn Văn D ở thôn A, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh, bị cáo Nguyễn Văn K đã thực hiện hành vi dùng tay phải cầm 1/2 viên gạch kích thước (13x11x05)cm ném trúng vùng đỉnh đầu ông Hàn Văn D gây thương tích.

Xét hậu quả thì thấy: Bị cáo K không thừa nhận thương tích thủng màng nhĩ tai phải của bị hại do bị cáo gây ra còn bị hại khẳng định vết thương vùng đầu và tai do bị cáo K ném gạch gây ra. Hội đồng xét xử nhận thấy tại phiên tòa bị cáo, bị hại đều khai nhận bị cáo chỉ ném Dy nhất 01 lần 1/2 viên gạch vào đầu bị hại. Tuy nhiên ông D lại bị thương tích tại vùng đầu và thủng màng nhĩ phải. Tại văn bản số 39 ngày 15/6/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Bắc Ninh trả lời: “Cơ chế phải có tác động ngoại lực tạo áp lực mới gây được thủng màng nhĩ. Trong trường hợp này vết thương rách da ở vùng đầu đỉnh phải và vết thủng màng nhĩ là 02 tổn thương độc lập với nhau. Thương tích vùng đầu không thể là nguyên nhân trực tiếp như nội Dng công văn hỏi”. Tại Công văn số 09/CV-PY ngày 18/01/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Bắc Ninh khẳng định “Một vết thương vào vùng đỉnh rách da không gây tổn thương xương thì không thể gây thủng màng nhĩ”. Công văn số 22/BVĐSKB ngày 27/01/2021 của Bệnh viện Đa khoa Kinh Bắc II cũng không khẳng định thương tích thủng màng nhĩ tai phải của ông D do bị cáo gây ra. Ngoài ra tại biên bản làm việc trích xuất 02 video có trong đĩa DVD lưu trữ trong hồ sơ vụ án không quay được cảnh bị cáo K dùng tay tát, đấm vào thái dương, chẩm, tai ông D. Như vậy có đủ cơ sở kết luận hành vi bị cáo K ném 1/2 viên gạch là “Hung khí nguy hiểm”trúng đầu ông D chỉ gây tổn thương cơ thể với tỉ lệ là 4%. Cáo trạng T1 tố bị cáo K về tội “Cố ý gây thương tích” là đúng theo quy định pháp luật. Tuy nhiên căn cứ vào tỉ lệ tổn thương cơ thể bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ. Ngoài ra hành vi của bị cáo gây mất trật tự trị an, hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân nơi xảy ra tội phạm...Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi bị cáo thực hiện mới có tác dụng giáo dục cải tạo riêng và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy: Bị cáo không có tiền án, tiền sự là người có nhân thân tốt. Quá trình điều tra, T1 tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo nhưng không ăn năn hối cải vì vậy cho bị cáo hưởng một phần tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Lần phạm tội của bị cáo lần này là lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trong nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Hội đồng xét xử nhận thấy xuất phát từ tranh chấp đất đai, bị cáo không tìm cách giải quyết trên cơ sở quy định pháp luật mà lại hành xử hung hãn. Ngoài ra tại phiên tòa, bị cáo được giải thích quyền, nghĩa vụ theo quy định pháp luật nhưng có thái độ thiếu tôn trọng Hội đồng xét xử, không tỏ thái độ ăn năn hối cải. Xác minh tại địa phương cho thấy bị cáo thường xuyên vắng mặt, có mối quan hệ xã hội phức tạp. Vì vậy Hội đồng xét xử nhận thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, ông D yêu cầu bị cáo phải bồi thường tổng số tiền là 69.476.124. Tuy nhiên bị cáo khẳng định bị cáo không sai nên không đồng ý bồi thường cho ông D. Hội đồng xét xử nhận thấy hành vi bị cáo cầm gạch ném trúng đầu ông D gây thương tích 4% nên cần chấp nhận một phần yêu cầu bồi thường của ông D. Tại phiên tòa ông D đồng ý mức bồi thường theo quy định pháp luật. Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào hóa đơn chứng từ, xác minh thu thập tại địa phương, buộc bị cáo phải bồi thường ông Hàn Văn D số tiền là 24.073.124 đồng gồm chi phí viện phí chữa trị là 17.273.124 đồng, ngày công lao động bị mất 3.000.000 đồng; chi phí đi lại 1.300.000 đồng; chi phí phục hồi sức khỏe 1.000.000 đồng; tổn thất tinh thần 1.500.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Đối với 1/2 viên gạch bị cáo sử dụng trong quá trình phạm tội không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy. Cần tiếp tục lưu trữ 02 đĩa DVD trong hồ sơ vụ án.

Đối với hành vi du đẩy Nguyễn Văn K của bà Nguyễn Thị C, chị Hàn Thị C và chị Nguyễn Thị Thu T2 ngày 17/4/2020 chỉ với mục đích can ngăn K và ông D không đánh nhau. Do vậy, cơ quan CSĐT Công an huyện Tiên D không xử lý là phù hợp.

Đối với anh Nguyễn Văn T có hành vi dùng chân đạp và vật lộn đánh nhau với K. Tuy nhiên xét nguyên nhân dẫn đến anh T có hành vi như trên là do bị kích động khi thấy K đánh và dùng gạch ném gây thương tích cho bố đẻ mình là ông D. Vì vậy, Cơ quan CSĐT Công an huyện Tiên D không xử lý hành chính mà chỉ giáo dục, nhắc nhở là phù hợp.

Đối với những thương tích của Nguyễn Văn K trong quá trình xô xát với ông D và người nhà ông D, chỉ là những xây xát nhỏ, K không có yêu cầu đề nghị gì. Đối với hành vi đạp, D đổ dầm sắt của gia đình ông D, do không gây thiệt hại và ông D không có yêu cầu đề nghị gì nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Tiên Du không xem xét xử lý là phù hợp.

Đối với bà Nguyễn Thị Nụ, khi bảo K về chỉ với mục đích để giải quyết việc tranh chấp đất với gia đình ông D chứ không phải để gây thương tích cho ông D. Do vậy cơ quan CSĐT Công an huyện Tiên Du không xử lý mà chỉ giáo dục, nhắc nhở là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Cố ý gây thương tích”

2. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 588, Điều 590 Bộ luật dân sự; Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Văn K phải bồi thường cho ông Hàn Văn D số tiền 24.073.000 đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bên được thi hành án làm đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên thi hành án chưa thi hành xong thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu lãi suất theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 cho đến khi thi hành xong.

4. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 viên gạch vỡ (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/10/2020). Tiếp tục lưu trữ 02 đĩa DVD trong hồ sơ vụ án

5. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 1.204.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

6. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án có hiệu lực được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ