vanban.org

Bản án 41/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La Tuyên án 28/04/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về Điều luật áp dụng:

D , phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; Về hình phạt : Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vừ A D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về Điều luật áp dụng:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SỐP CỘP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SƠN LA
Bản án số: 41/2021/HS-ST
Ngày: 28/4/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP, TỈNH SƠN LA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm"phán"-"Chủ"toạ"phiên"toà: Ông Dương Ngọc Tam. """""Các"Hội"thẩm"nhân"dân:

Ông Lò Trung Thành

Bà Hoàng thị Kiều

Thư ký phiên toà:" Bà Tòng Thị Duyên – Thư ký Toà án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La. """"Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp tham gia phiên toà: Ông Mai Văn Quyết – Kiểm sát viên. Ngày 28 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La; xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 39/2021/TLST-HS ngày 23 tháng 3 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/QĐXXST-HS ngày 15/4/2021 đối với bị cáo:

Vừ A D tên gọi khác: Không, sinh năm 1980, tại huyện S , tỉnh Sơn La.

Nơi cư trú: Bản P, xã Đ, huyện S , tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt;

trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Mông; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái: Không; con ông: Vừ Sống L và bà Và Thị D , có vợ và có 03 con; tiền án: Không có; tiền sự: năm 2017 bị Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc thời gian 24 tháng, ngày 23/4/2019 chấp hành xong về địa phương nhân thân: Năm 2011 bị Ủy ban nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 24 tháng; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/12/2020 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Vừ A V , sinh năm 1988

Nơi cư trú: Bản P , xã Đ , huyện S , tỉnh Sơn La, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DỤNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 9 giờ ngày 16/12/2020 Vừ A D điều khiển xe máy từ nhà ở bản

P , huyện S đến bản Sam Kha, xã Sam Kha huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, D mua được 40 viên ma túy với số tiền 600.000 đồng của một người dân tộc Mông không quen biết, do chưa có tiền trả, nên D hẹn 10 giờ ngày 18/4/2020 sẽ đến sân bóng của bản Sam Kha để trả tiền, người bán ma túy nhất trí. Mua được ma túy D cầm gói ma túy trên tay rồi điều khiển xe về nhà thì bị Công an huyện

1 Sốp Cộp phát hiện lập biên bản quả tang đã thu giữ và niêm phong số vật chứng là 40 viên nén hình tròn nghi là ma túy tổng hợp đựng trong túi ni lon màu xanh, tạm giữ 01 xe máy biển kiểm soát 26B2- 41.564.

Ngày 17/12/2020 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sốp Cộp

thành lập hội đồng mở niêm phong, cân tịnh, lấy mẫu giám định gói vật chứng của Vừ A D có tổng khối lượng 4,01 gam, đã lấy 05 viên có khối lượng 0,5 gam làm mẫu giám định ký hiệu D, còn lại 35 viên có khối lượng 3,51 gam ký hiệu D1 lưu kho vật chứng.

Bản kết luận giám định số 27 ngày 18/12/2020 của Phòng Kỹ thuật hình

sự - Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu D là ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu giám định 0,50 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 4,01 gam; loại Methamphetamine.

Bản Cáo trạng số 17/CT-VKSSC ngày 22 tháng 3 năm 2021 của Viện

kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, truy tố bị cáo Vừ A D về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa, sau khi trình bày lời

luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Vừ A D từ 42 đến 48 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Tịch thu để tiêu hủy: 01 phong bì thư đã niêm phong kín;

bên trong phong bì có chứa 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở và 01 túi ni lon màu xanh, 01 túi vật chứng lưu kho ký hiệu D1 có khối lượng 3,51 gam; trả lại cho Vừ A Vạ 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA , loại Wave có biển kiểm soát 26B2-415.64 và miễn khoản án phí cho bị cáo.

Về nguồn gốc 4,01 gam ma túy bị cáo D khai nhận mua của một người

không biết tên, không biết địa chỉ ngoài lời khai của bị cáo ra không còn căn cứ khác chứng minh, nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra,

truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Sốp Cộp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

2

Về chứng cứ xác định tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Vừ A D khai nhận

ngày 16/12/2020 bị cáo đã mua được 40 viên ma túy của một người không quen biết với giá 600.000 đồng nhưng chưa trả tiền, mua được ma túy bị cáo cầm trên tay đi về, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Công an huyện Sốp Cộp phát hiện lập biên bản quả tang và thu giữ 40 viên ma túy, loại Methamphetamine; Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 11 giờ 30 phút ngày 16 tháng 12 năm 2020; Biên bản cân tịnh vật chứng, kết luận giám định số 27, ngày 18/12/2020, lời khai của bị cáo, lời khai người làm chứng, vật chứng của vụ án là 4,01 gam ma túy, loại Methamphetamine.

Từ những căn cứ nêu trên, có đủ cơ sở kết luận Vừ A D phạm tội Tàng trữ

trái phép chất ma túy, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Xét về tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, có nhân thân xấu, hành vi cất giấu

trái phép 4,01 gam ma túy là vi phạm pháp luật, hành vi đó đã gây nguy hiểm cho xã hội, vi phạm chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý các chất ma túy, ảnh hưởng đến trật tự trị an trên địa bàn, là nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác; Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, nhằm răn đe giáo dục bị cáo và để phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: không có

Tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội tại cơ quan Điều tra và tại phiên tòa

bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính lẽ ra bị cáo phải bị áp

dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự; xét thấy bị cáo không có điều kiện về kinh tế, nên không áp dụng.

Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Vừ A V, đã cho bị cáo D

mượn xe máy, khi cho mượn anh Vạ không thể biết D mang xe để đi mua và tàng trữ trái phép chất ma túy, xét thấy chiếc xe máy là tài sản thuộc quyền sở hữu của Vừ A Vạ, nên cần trả lại cho chủ sở hữu.

Về vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự, điểm a

khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Vật chứng còn lại là 01 phong bì thư đã niêm phong kín; bên trong phong

bì có chứa 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở, 01 túi ni lon màu xanh và 01 túi vật chứng lưu kho ký hiệu D1 có khối lượng 3,51 gam ma túy, loại Methamphetamine, là vật cấm lưu hành cần tịch thu để tiêu hủy.

01(một) xe máy nhãn hiệu HONDA , loại Wave có biển kiểm soát 26B2-

415.64 là tài sản của Vừ A Vạ, khi cho mượn xe không biết D mượn để dùng vào việc đi mua ma túy, do đó cần trả lại cho chủ sở hữu là Vừ A V .

3

Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016; miễn khoản án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tuyên quyền kháng cáo đối với bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ

liên quan.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1.Về Điều luật áp dụng:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự: Tuyên bố Vừ A

D , phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy;

2. Về hình phạt : Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1

Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự; Xử phạt Vừ A D 42 (Bốn mươi hai) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/12/2020.

3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng phạt tiền đối với bị cáo.

4. Vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự, điểm a,

khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

-Tịch thu để tiêu hủy 01 phong bì thư đã niêm phong kín; bên trong phong

bì có chứa 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở, 01 túi ni lon màu xanh và 01 túi vật chứng lưu kho ký hiệu D1 có khối lượng 3,51 gam ma túy, loại Methamphetamine.

-Trả lại cho Vừ A V 01 (một) xe máy nhãn hiệu HONDA , loại Wave,

màu sơn đỏ bạc, biển kiểm soát 26B2-415.64, số khung: RLHJA 3912KY112513, số máy JA39E-0968967, xe đã qua sử dụng. Toàn bộ vật chứng của vụ án theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 23 tháng 3 năm 2021, giữa Chi cục thi hành án dân sự và Công an huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La.

5. Về án phí: Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016

/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Miễn khoản án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vừ A D.

6. Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo

trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (28/4/2021). ""Nơi nhận:

Cỡ chữ