vanban.org

Bản án 41/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 28/05/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính ngày 23/12/2020. Quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Q - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ LƯƠNG
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2021/HS-ST
Ngày 28/5/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hồng Khánh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Ngọc Ngư;

2. Ông Lâm Ngọc Thắng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tốn - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2021, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Phú Lương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 22/2021/TLST-HS ngày 06/4/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2021/QĐXXST-HS ngày 14/5/2021, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Q, tên gọi khác: Không; sinh ngày: 10/10/1965.

Nơi cư trú: Đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay tại xóm M, xã P1, huyện P, tỉnh T; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 07/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn D (đã chết) và bà Nguyễn Thị M1 (đã chết); Có vợ là: Nguyễn Thị X, sinh năm 1970; có 02 con, con lớn sinh năm 1989, con nhỏ sinh năm 1991; Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

- Tại bản án số 05 ngày 25/11/1992 của Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Nguyễn Văn Q 12 tháng tù về tội Cưỡng đoạt tài sản và 18 tháng tù về tội Bắt giữ người trái pháp luật.

- Tại bản án số 06 ngày 31/01/1996 của Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Nguyễn Văn Q 15 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

- Tại bản án số 20 ngày 28/4/2008 của Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Nguyễn Văn Q 42 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/12/2020, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên (có mặt).

- Người chứng kiến: Bà Nguyễn Thị C1, sinh năm 1959, địa chỉ: Tổ dân phố G1, thị trấn G2, huyện P, tỉnh T (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 13 giờ 50 phút ngày 23/12/2020, tại tổ dân phố Giang Khánh, thị trấn Giang Tiên, huyện Phú Lương, Công an thị trấn Giang Tiên, huyện Phú Lương làm nhiệm vụ phát hiện Nguyễn Văn Q đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ: Thu trong túi quần bên trái đang mặc trên người Quang 04 gói chất bột màu trắng, Quang khai là ma túy loại heroine, tàng trữ để sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng trong phong bỳ ký hiệu H1, chuyển toàn bộ hồ sơ, vật chứng và đối tượng đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Lương để giải quyết theo thẩm quyền.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Lương đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở, đồ vật… của Nguyễn Văn Q tại xóm M, xã P1, huyện P, tỉnh T theo Lệnh khám xét khẩn cấp số 08 ngày 23/12/2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Lương. Kết quả khám xét: Không phát hiện thu giữ gì.

Cùng ngày, tại phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên cân xác định khối lượng chất bột màu trắng thu giữ của Quang niêm phong trong bì ký hiệu H1 được là 0,563 gam, sau đó niêm phong toàn bộ trong phong bì ký hiệu A1 để giám định.

Tại bản kết luận giám định số 119/KL-KTHS ngày 31/12/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: số chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A1 là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,563 gam.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Văn Q khai nhận: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 23/12/2020, Quang đi bộ từ nhà ra đường Quốc lộ 3 rồi bắt xe buýt xuống Trạm thu phí BOT thuộc xóm 8, xã Sơn Cẩm, thành phố Thái Nguyên để tìm mua ma túy sử dụng. Tại đây, Quang gặp và mua của một người đàn ông khoảng 50 tuổi (không quan biết) 04 gói Heroine với giá 1.000.000 đồng, mua được ma túy, Quang cất giấu trong túi quần bên trái phía trước rồi đi xe buýt về. Khi Quang xuống điểm xe buýt thuộc tổ dân phố Giang Khánh, thị trấn Giang Tiên, huyện Phú Lương thì bị Công an thị trấn Giang Tiên, huyện Phú Lương phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

Vật chứng của vụ án: 01 bì niêm phong ký hiệu A1, bên trong có 0,553 gam Heroine và 01 bì niêm phong ký hiệu A1 còn lại sau giám định; 01 vỏ bì niêm phong ký hiệu A2 bên trong có 01 bì niêm phong ký hiệu H1 và vỏ giấy gói ma túy.

Tại bản Cáo trạng số 23/CT-VKSPL ngày 05/4/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương truy tố bị cáo Nguyễn Văn Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương giữ quyền công tố đã đánh giá tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội, xem xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn Q, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, Điều 38, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q mức án từ 24 đến 30 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS, đề nghị tịch thu tiêu hủy vật chứng của vụ án.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phần tranh luận: Bị cáo không tranh luận gì.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức án nhẹ để sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phú Lương, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về sự vắng mặt của người chứng kiến bà Nguyễn Thị C: Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia tố tụng tại phiên tòa người chứng kiến vắng mặt. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến về sự vắng mặt của người chứng kiến, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đề nghị xét xử vắng mặt người chứng kiến. Quá trình điều tra, người chứng kiến không có khiếu nại gì đối với quyết định, hành vi của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng liên quan đến việc mình tham gia nên việc vắng mặt người chứng kiến tại phiên tòa không gây trở ngại cho việc xét xử. Việc Tòa án xét xử vắng mặt không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người chứng kiến bà Nguyễn Thị C theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

Xét về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, xác nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, kết luận giám định, biên bản khám xét, lời khai của người chứng kiến và những tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, đã đủ cơ sở để kết luận: Hồi 13 giờ 50 phút ngày 23/12/2020, tại tổ dân phố Giang Khánh, thị trấn Giang Tiên, huyện Phú Lương, Nguyễn Văn Q đã có hành vi tàng trữ 04 gói ma túy loại Heroine, có khối lượng 0,563 gam để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt quả tang.

Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Nội dung điều luật quy định như sau:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

a. …

c. Heroine… có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.”

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý về ma túy của Nhà nước, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn xã hội tại địa phương.

Xét các yếu tố về nhân thân của bị cáo thấy rằng: Bị cáo là người nghiện ma túy, chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, biết rõ việc tàng trữ Heroine là vi phạm pháp luật, nhưng vì bản thân nghiện ma túy nên bị cáo đã bất chấp các quy định của pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về hình phạt: Xét tính chất của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo thấy rằng cần phải có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

Hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 249 BLHS quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng…..” . Xét thấy bị cáo Quang đang bị tạm giam, không có công việc ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS, cần tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong ký hiệu A1, bên trong có 0,553 gam Heroine còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1; 01 vỏ bì niêm phong ký hiệu A2 bên trong có 01 bì niêm phong ký hiệu H1 và vỏ giấy gói.

Về án phí: cần buộc bị cáo chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Về nguồn gốc số ma túy, Nguyễn Văn Q khai mua của một người đàn ông khoảng 50 tuổi, không quen biết, không biết rõ tên, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương tại phiên toà về hình phạt cũng như các vấn đề khác là phù hợp nên cần được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38, Điều 47, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; các điều 106, 136, 292, 329, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí, lệ phí 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính ngày 23/12/2020.

Quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

2. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong ký hiệu A1, bên trong có 0,553 gam Heroine còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1; 01 vỏ bì niêm phong ký hiệu A2 bên trong có 01 bì niêm phong ký hiệu H1 và vỏ giấy gói.

Tình trạng vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an huyện Phú Lương và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Lương ngày 09/4/2021.

3. Án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, báo cho biết được quyền kháng cáo trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND huyện Phú Lương;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND tỉnh Thái Nguyên;

- Chi cục THADS huyện Phú Lương;

- Cơ quan CSĐT Công an huyện Phú Lương;

- TAND tỉnh Thái Nguyên;

- Cơ quan THAHS Công an tỉnh Thái Nguyên;

- Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên;

- Sở Tư pháp Thái Nguyên;

- Bị cáo;

- Lưu HS, VP.

Lê Hồng Khánh THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Hồng Khánh

Cỡ chữ