- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2021/HS - ST Ngày: 14/5/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Chung.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thanh Miện
Ông Bùi Thế Hanh
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Mai - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Quý - Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 14/5/2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 35/2021/TLST-HS ngày 15/4/2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2021/QĐXXST-HS ngày 29/4/2021, đối với bị cáo:
Họ và tên: Hà Văn H - sinh năm 1969;
Tên gọi khác: Không ; Giới tính: Nam
Nơi cư trú: thôn SG, xã NS, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
Nghề nghiệp: Làm ruộng;
Trình độ văn hóa: 5/10;
Quốc tịch: Việt Nam;
Dân tộc: Kinh;
Tôn giáo: Không;
Con ông: Hà Văn Ninh, sinh năm 1944 (đã chết)
Con bà: Lưu Thị Thắp, sinh năm 1944
Vợ: Hà Thị Tân, sinh năm 1971.
Con: Bị cáo có 03 con, lớn sinh năm 1993, nhỏ sinh năm 2001.
Anh chị em ruột: Gia đình có 07 anh, chị, em, bị cáo là con thứ 5.
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Ngày 11/6/2010 bị Chủ tịch UBND huyện Hiệp Hòa quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh thời hạn 12 tháng.
Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/3/2021 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang (có mặt).
*Người liên quan: Ông Hà Huy T, sinh năm 1956
Trú tại: thôn SG, xã NS, Hiệp Hòa, Bắc Giang (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 13 giờ 35 phút ngày 29/3/2021, tại khu vực Cầu Ngọc Thành thuộc thôn Ngọc Thành 2, xã Ngọc Sơn, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang, Công an huyện Hiệp Hòa kiểm tra, bắt quả tang Hà Văn H, sinh năm 1969 ở thôn SG, xã NS, huyện Hiệp Hòa đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy .
Thu giữ tại túi quần bên trái Hữu đang mặc: 01 (một) vỏ bao thuốc lá Thăng Long, bên trong có 01(một) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ, bên trong chứa 01(một) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ chứa các viên nén màu hồng đỏ và màu xanh, nghi là ma túy, Hữu khai nhận đó là ma túy của Hữu tàng trữ mục đích để sử dụng. Công an huyện Hiệp Hòa đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong toàn bộ vật chứng thu giữ trong phong bì thư có kí hiệu “QT”. Ngoài ra còn thu giữ của Hữu 01 chiếc điện thoại di động Nokia có số IMEI: 359002094798777 đã qua sử dụng; 01 xe môtô nhãn hiệu SYM loại Elegant mang BKS: 98K9-9852 (BL16-19).
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hiệp Hòa ra lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của Hà Văn H, kết quả không thu giữ đồ vật, tài liệu, tài sản gì. (BL 24-25)
Ngày 29/3/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hiệp Hòa ra Quyết định trưng cầu giám định Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Giang giám định số vật chứng thu giữ khi bắt quả tang thu giữ của Hà Văn H.
Tại Kết luận giám định số 528 ngày 16/12/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự
- Công an tỉnh Bắc Giang, kết luận:
“Trong 01 phong bì có ký hiệu “QT” đã được niêm phong gửi giám định: Trong 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu “Thăng Long” các viên nén màu hồng đỏ và màu xanh đựng trong01 (một) túi ni lon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ, được đựng trong 01 (một) túi ni lon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ là ma túy , có khối lượng 19,197 gam loại Methamphetamine” (BL: 31).
Quá trình điều tra Hà Văn H khai nhận như sau: Do bị nghiện ma túy từ lâu, buổi sáng ngày 29/3/2021 Hữu gọi điện thoại cho một người quen biết ngoài xã hội tên là Trung ở thị trấn Cao Thượng, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang. Hữu bảo Trung bán cho Hữu 7.000.000 đồng (bẩy triệu đồng) tiền ma túy hồng phiến, mục đích để Hữu sử dụng dần. Khoảng 13 giờ cùng ngày, Trung cầm ma túy đến khu vực cầu Ngọc Thành đưa cho Hữu, sau khi nhận ma túy, Hữu cất số ma túy vào túi quần bên trái rồi đưa tiền cho Trung. Sau đó Hữu đi về được một đoạn thì bị Công an huyện Hiệp Hòa bắt quả tang.
Với nội dung trên tại bản Cáo trạng số: 40/CT-VKS-HH ngày 13/4/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa truy tố bị cáo Hà Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, sau phần Xét hỏi tại phần Tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa thực hành quyền công tố đã luận tội đối với bị cáo, phân tích, đánh giá tính chất nguy hiểm của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
1, Tuyên bố bị cáo Hà Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2, Về hình phạt: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự.
Xử phạt Hà Văn H từ 07(bảy) năm 06 (sáu) tháng tù đến 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 29/3/2021.
Miễn hình phạt bổ xung cho bị cáo.
3,Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 47 BLHS.
-Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ký hiệu “QT” bên trong là ma túy thu giữ của Hà Văn H đã được niêm phong (sau giám định).
-Tịch thu xung quỹ nhà nước: 01 chiếc điên thoại di động Nokia có số IMEI: 359002094798777 đã qua sử dụng (đã được niêm phong) trong một phong bì có ký hiệu “ĐT1”.
4, Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nhận tội và không có tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Hiệp Hòa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về sự vắng mặt của người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt không có lý do, tuy nhiên đã có đầy đủ lời khai của họ trong hồ sơ nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt theo khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
: Tại phiên toà hôm nay bị cáo Hà Văn H có mặt tại phiên tòa cũng đã hoàn toàn khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với hành vi phạm tội, kết luận giám định, lời khai của người liên quan và lời khai của người làm chứng, tang vật thu giữ và các tài liệu khác do Cơ quan điều tra thu thập, đã có đủ cơ sở để kết luận:
Hồi 13 giờ 35 phút ngày 29/3/2021, tại khu vực Cầu Ngọc Thành thuộc thôn Ngọc Thành 2, xã Ngọc Sơn, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang; Hà Văn H có hành vi tàng trữ trái phép 19,197 gam, loại ma túy Methamphetamine thì bị Công an huyện Hiệp Hòa bắt quả tang. Hữu khai là ma túy của Hữu tàng trữ để sử dụng.
Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp về thời gian, không gian, địa điểm. Hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội. Ma tuý là hiểm hoạ cho đời sống cộng đồng, là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác, là nguy cơ lây truyền các căn bệnh xã hội như HIV, AIDS… Pháp luật nghiêm cấm mọi hành vi mua bán, tàng trữ, vận chuyển… trái phép chất ma tuý. Đảng và Nhà nước ta đang quyết tâm loại trừ tệ nạn này.
Tội phạm do bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng đã trực tiếp xâm phạm đến quyền lợi chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu tới trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là đối tượng có nhân thân về hành vi sử dụng chất ma túy đã được đưa đi cở sở bắt buộc chữa bệnh thời gian 12 tháng, song bị cáo vẫn cố tình thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, do đó cần phải có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.
. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng của bị cáo thì thấy: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào được quy định tại điều 52 Bộ luật hình sự.
. Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo một phần khi lượng hình.
. Xét về hình phạt bổ sung: Bản thân bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có tài sản thu nhập riêng. Do đó cần miễn hình phạt bổ xung cho bị cáo.
. Đối với người đàn ông tên là Trung theo Hữu khai Hữu đã gọi điện thoại đến Cầu Ngọc Thành bán ma túy cho Hữu. Tuy nhiên Hữu không biết rõ địa chỉ của Trung, không nhớ rõ số điện thoại, Cơ quan điều tra đã kiểm tra điện thoại của Hữu không có liên lạc nào, nên không có căn cứ để xác minh và xử lý.
. Về vật chứng của vụ án gồm: Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu SYM loại Elegant, đăng ký BKS: 98k9-9852 là của ông Hà Huy T sinh năm 1956 ở thôn SG, xã NS, huyện Hiệp Hòa (là anh họ của Hữu) cho Hữu mượn, ông Tẩm không biết Hữu dùng vào việc phạm tội. Ngày 09/4/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hiệp Hòa đã trả lại chiếc xe trên cho ông Tẩm là đúng quy định của pháp luật. Đối với chiếc điên thoại di động Nokia có số IMEI: 359002094798777 là tài sản của Hữu, liên quan đến việc phạm tội cần tịch thu xung quỹ nhà nước.
. Cần tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 249; Điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự; Khoản 1 Điều 292; 293 Bộ luật tố tụng hình sự.
1. Về tội danh:
Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
Xử phạt: Hà Văn H: 08 (tám ) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 29/3/2021.
Miễn hình phạt bổ xung cho bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng điểm a, khoản 2, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự:
-Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ký hiệu “QT” bên trong là ma túy thu giữ của Hà Văn H đã được niêm phong ( sau giám định).
-Tịch thu xung quỹ nhà nước: 01 chiếc điên thoại di động Nokia có số IMEI: 359002094798777 đã qua sử dụng ( đã được niêm phong) trong một phong bì có ký hiệu “ĐT1”.
4. Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án:
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án Dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo, người liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; người liên quan; - VKSND huyện Hiệp Hòa; - VKSND tỉnh Bắc Giang; - TAND tỉnh Bắc Giang; -CQĐT,CQTHAHS Công an huyện Hiệp Hòa; - Trại Tạm giam CA tỉnh Bắc Giang; - Cổng thông tin điện tử Tòa án; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Ngọc Chung |