vanban.org

Bản án 41/2021/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Sóc Trăng Tuyên án 26/05/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/05/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H về việc xin giảm nhẹ hình phạt.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H: 05 (năm) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 28/8/2020. Về án phí: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H về việc xin giảm nhẹ hình phạt.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2021/HS-PT.
Ngày 26-5-2021.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Nguyễn Thành Hữu.

Các Thẩm phán:

Ông Phạm Hùng Nuôi.

Bà Tăng Thị Thúy Nga.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nông Văn Nguyên - Thư ký của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa:

Ông Đào Tiến Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 33/2021/TLPT-HS ngày 14 tháng 4 năm 2021 đối với bị cáo Nguyễn Văn H, do có kháng cáo của bị cáo H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 06/2021/HS-ST ngày 04-3-2021 của Tòa án nhân dân huyện X, tỉnh Sóc Trăng.

- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Văn H, sinh năm 1981 tại xã O, huyện P, tỉnh Trà Vinh; nơi cư trú: Ấp Y, thị trấn Z, huyện X, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Chạy xe ôm; Trình độ học vấn: 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C và bà Lê Thị M; có vợ Lê Thị G và 01 người con, sinh năm 2007; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/8/2020 đến ngày 06/9/2020 chuyển sang tạm giam cho đến nay. (Có mặt).

- Những người dưới đây không liên quan đến kháng cáo Hội đồng xét xử phúc thẩm không triệu tập gồm: Bị cáo Nguyễn Thị S1; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Trương Bích T, ông Nguyễn Văn T1, Trần Văn T2, Nguyễn Thanh S2; Quách Trường X; Người làm chứng: Ông Quách Phương Đ, ông Cô Văn C1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 13 giờ 28 phút ngày 28/8/2020, trên đoạn đường lộ đan gần nhà ông Công Văn C1 thuộc ấp Y, thị trấn Z, huyện X, tỉnh Sóc Trăng. Lực lượng Đồn biên phòng Trung Bình tiến hành kiểm tra xe mô tô biển số 83P1 – 361.85 do Nguyễn Văn H (sau đây gọi là H) điều khiển thì phát hiện trong túi quần của H có 05 bịch ma túy nên Đồn biên phòng Trung Bình lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy đồng thời tạm giữ các đồ vật, tài liệu của H bao gồm: 05 (năm) bịch nilon màu trắng được hàn kín, bên trong có chứa chất tinh thể rắn (Được niêm phong đánh dấu gói số 01); 02 (hai) ống thủy tinh đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động cảm ứng hiệu Masstel màu đồng đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động bàn phím hiệu Nokia đã qua sử dụng; 01(một) xe máy Wave a màu đen biển số 83P1 – 361.85; 01(một) giấy đăng ký xe mang tên Nguyễn Văn T1; 01(một) Giấy chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Văn H; 01(một) túi nilon màu trắng có dòng chữ lovely; 01(một) cái bóp đen màu da đã qua sử dụng; Tiền Việt Nam 4.884.000 đồng.

Qua lời khai của H, Đồn biên Phòng Trung Bình đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Thị S1 (là em cùng cha khác mẹ với H). Quá trình khám xét đã phát hiện tại giường ngủ trong nhà của Nguyễn Thị S1 có một hộp giấy hình vuông màu vàng có dòng chữ LIGHTER nằm dưới cái mền, bên trong hộp giấy có 13 (mười ba) bịch nilon màu trắng được hàn kín hai đầu, 01 (một) túi nilon màu trắng có một viền đỏ, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy đá. Lực lượng Đồn biên phòng Trung Bình đã lập biên bản đồng thời tạm giữ các đồ vật, tài liệu của Nguyễn Thị S1 bao gồm: 14 (mười bốn) bịch nilon màu trắng được hàn kín, bên trong có chứa chất tinh thể rắn kín (Được niêm phong đánh dấu gói số 02); 03 (ba) ống thủy tinh đã qua sử dụng; 01 (một) hộp giấy hình vuông màu vàng có chữ LIGHTER; 02 (hai) lưỡi lam màu trắng có chữ BIC.

Tại bản kết luận giám định số: 116/GĐMT-PC09 ngày 31 tháng 8 năm 2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sóc Trăng kết luận:

- Gói 01: Mẫu tinh thể rắn trong suốt được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,3959 gam, loại Methamphetamine.

- Gói 02: Mẫu tinh thể rắn trong suốt được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 1,2439 gam, loại Methamphetamine.

Trong quá trình điều tra, bị cáo H khai: Vào khoảng 13 giờ ngày 28/8/2020, Nguyễn Thị S1 điện thoại cho H qua nhà S1 lấy ma túy đem giao cho Trương Bích T. Khi H đến, S1 đưa cho H một cái ống thủy tinh và 05 bịch ma túy đá được gói trong giấy màu trắng đi giao cho T. S1 kêu H bỏ ma túy, điện thoại, ống thủy tinh bỏ vào trong túi quần bên trái rồi điều khiển xe mô tô biển số 83P1-361.85 đi giao cho T. Trên đường đi giao ma túy thì H bị Đồn biên phòng Trung Bình bắt người phạm tội quả tang. Ngoài ra, H còn khai nhận ngoài lần bán ma túy cho T bị bắt quả tang, trước đó H có trực tiếp giao ma túy cho T một lần và giao cho một người không rõ lai lịch đi tàu cá của ông Huỳnh Tấn L một lần. Mỗi lần đi giao ma túy thì H mang tiền về đưa cho S1. H chỉ nhân tiền công từ 30.000 đồng đến 50.000 đồng cho mỗi lần giao ma túy.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 06/2021/HS-ST ngày 04 tháng 3 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện X, tỉnh Sóc Trăng quyết định:

1. Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị S1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt Bị cáo Nguyễn Thị S1 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam bị cáo để thi hành án.

2. Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 28/8/2020.

- Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo của các bị cáo và người tham gia tố tụng khác.

Đến ngày 15/3/2021, Bị cáo Nguyên Văn H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo Nguyễn Văn H giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn H giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo và phạm vi xét xử phúc thẩm: Xét Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H được Nhà tạm giữ Công an huyện X, tỉnh Sóc Trăng xác nhận ngày 15/3/2021 là đúng quy định về người kháng cáo, thời hạn kháng cáo, hình thức, nội dung kháng cáo theo quy định của các Điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét nội dung kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H về việc xin giảm nhẹ hình phạt.

Về hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn H: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo H khai nhận: Vào lúc 13 giờ 28 phút ngày 28/8/2020, trên đoạn đường lộ đan gần nhà ông Công Văn C1 thuộc ấp Y, thị trấn Z, huyện X, tỉnh Sóc Trăng. Lực lượng Đồn biên phòng Trung Bình tiến hành kiểm tra xe mô tô biển số 83P1 – 361.85 do Nguyễn Văn H điều khiển thì phát hiện trong túi quần của H có 05 bịch ma túy nên Đồn biên phòng Trung Bình lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy đồng thời tạm giữ các đồ vật, tài liệu của H bao gồm: 05 (năm) bịch nilon màu trắng được hàn kín, bên trong có chứa chất tinh thể rắn (Được niêm phong đánh dấu gói số 01). Qua lời khai của H, Đồn biên Phòng Trung Bình đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Thị S1. Quá trình khám xét đã phát hiện tại giường ngủ trong nhà của Nguyễn Thị S1 có một hộp giấy hình vuông màu vàng có dòng chữ LIGHTER nằm dưới cái mền, bên trong hộp giấy có 13(mười ba) bịch nilon màu trắng được hàn kín hai đầu, 01 (một) túi nilon màu trắng có một viền đỏ, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy đá. Lực lượng Đồn biên phòng Trung Bình đã lập biên bản đồng thời tạm giữ các đồ vật, tài liệu của Nguyễn Thị S1 bao gồm: 14 (mười bốn) bịch nilon màu trắng được hàn kín, bên trong có chứa chất tinh thể rắn kín (Được niêm phong đánh dấu gói số 02). Ngoài ra, H còn khai nhận ngoài lần bán ma túy cho T bị bắt quả tang, trước đó H có trực tiếp giao ma túy cho T một lần và giao cho một người không rõ lai lịch đi tàu cá của ông Huỳnh Tấn L một lần. Mỗi lần đi giao ma túy thì H mang tiền về đưa cho S1.

Tại bản kết luận giám định số: 116/GĐMT-PC09 ngày 31 tháng 8 năm 2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sóc Trăng kết luận:

- Gói 01: Mẫu tinh thể rắn trong suốt được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,3959 gam, loại Methamphetamine.

- Gói 02: Mẫu tinh thể rắn trong suốt được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 1,2439 gam, loại Methamphetamine.

Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo H: Khi lượng hình, Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định bị cáo không có tình tiết tăng nặng và xem xét áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: Sau khi phạm tội có thành khẩn khai báo; Tự khai ra những lần phạm tội trước; Bị cáo có trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật cũng còn hạn chế; Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xét thấy, Hội đồng xét xử sơ thẩm áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã nêu trên và áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo với mức án 05 năm tù là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật và tương xứng tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào mới mà cấp sơ thẩm chưa áp dụng cho bị cáo. Do đó, kháng cáo xin giảm nhẹ của bị cáo là không có cơ sở chấp nhận.

Lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm là có căn cứ Hội đồng xét xử phúc thâm chấp nhận.

Về án phí phúc thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000 đồng.

Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H về việc xin giảm nhẹ hình phạt. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2021/HS-ST ngày 04 tháng 3 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.

2. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H: 05 (năm) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 28/8/2020.

3. Về án phí:

- Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000 đồng.

4. Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ