vanban.org

Bản án 41/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "ngân hàng KL - K, Đ"
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẠC LIÊU
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2021/DS-ST
Ngày 16 – 6 – 2021
V/v Tranh chấp hợp đồng
tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Thị Tuyết Anh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Bành Mỹ Tuyên, nghề nghiệp: Giáo viên, chức vụ: Hiệu trưởng

trường mầm non Hoa Hồng phường Nhà Mát, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

2. Bà Nguyễn Thị Bích Tuyền, nghề nghiệp: Cán bộ đoàn thành niên,

chức vụ: Bí thư Đoàn phường 1, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Chi – Thư ký Tòa án nhân dân thành

phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu

tham gia phiên tòa: Bà Trần Mỹ Linh – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc

Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 315/2020/TLST-DS ngày 21 tháng 10 năm 2021 về tranh chấp hợp đồng tín dụng,theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2021/QĐXX-ST ngày 22 tháng 4 năm 2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần KL; địa chỉ trụ sở chính:

Số 40-42-44 P, V, R, tỉnh KG; người đại diện theo pháp luật: Bà Trần Tuấn A. Chức vụ: Tổng giám đốc; người đại diện theo ủy quyền: Ông Hà Minh C– Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng TMCP KL chi nhánh Bạc Liêu (văn bản ủy quyền số 1418/QĐ-NHKL ngày 01/7/2020); người được ông Hà Minh C ủy quyền lại: Anh Trần Quốc S, sinh năm 1988; chức vụ: Phó Phòng khách hàng cá nhân Ngân hàng TMCP KL chi nhánh Bạc Liêu (văn bản ủy quyền số 2075/UQ-CNBL ngày 28/9/2020).

2. Đồng bị đơn: Ông Trương Văn Đ, sinh năm 1945 và bà Châu Thị K,

sinh năm 1947; địa chỉ: 3/80 khóm khóm N, phường H, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Trương Thanh T, sinh năm 1967;

2. Ông Trương Văn H, sinh năm 1979;

Cùng địa chỉ: 3/80 khóm N, phường H, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.

3. Ông Trương Văn U, sinh năm 1984;

4. Bà Trương Thanh H1, sinh năm 1987;

5. Cùng địa chỉ: 3/80A khóm N, phường H, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.

6. Bà Trương Thị Mỹ T1, sinh năm 1989;

7. Bà Trương Mỹ D, sinh năm 1986;

8. Bà Dương Thị Kim Ch, sinh năm 1969;

9. Em Trương Thanh Nh, sinh năm 2005;

Cùng địa chỉ: 3/80 khóm N, phường H, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.

(Đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng Thương mại Cổ phần KL là anh

S, ông Đ, bà K, ông T, ông H, ông U, bà H1, bà T1, bà D, bà Ch, em Nh vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình tố tụng tại Tòa án

đại diện theo ủy quyềnNgân hàng Thương mại Cổ phần KL trình bày:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần KL và ông Trương Văn Đ và bà Châu

Thị K đã ký kết hợp đồng tín dụng số 501/16/HĐTD/0200-5332 ngày 11/01/2016 vay số tiền 60.000.000 đồng, thời hạn vay 36 tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiên, lãi suất trong hạn 13,23%/năm, lãi suất cho vay được điều chỉnh 3 tháng một lần và được tính bằng lãi suất tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn 13 tháng lãnh lãi cuối kỳ tại thời điểm thay đổi lãi suất cộng biên độ 4,23%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay ngay trước thời điểm phát sinh nợ quá hạn, lãi được trả hàng tháng và vốn trả cuối kỳ.

Để đảm bảo cho hợp đồng tín dụng số 501/16/HĐTD/0200-5332 ngày

11/01/2016, ông Trương Văn Đ và bà Châu Thị K đã ký kết với Ngân hàng Thương mại Cổ phần KL hợp đồng thế chấp số 501/16/HĐTC-BĐS/0200-5332 ngày 11/01/2016 thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 25 tờ bản đồ 15, đã được Ủy ban nhân dân thành phố Bạc Liêu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BĐ 945471 ngày 19/5/2011 cho hộ ông Trương Văn Đ, tổng diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 205,6m2, đất tọa lạc tại khóm N, phường H, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.

Kể từ ngày vay đến nay ông Trương Văn Đ và bà Châu Thị K đã thanh

toán cho Ngân hàng số tiền nợ gốc là 17.900.000 đồng, do ông Đ và bà K vi phạm nghĩa vụ thanh toán giao kết trong hợp đồng tín dụng, đã hết thời hạn vay theo thỏa thuận đã ký kết nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Đ, bà K thanh toán cho Ngân hàng nợ gốc và lãi. Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết ông Đ và bà K đã thanh toán thêm số nợ gốc là 6.810.000 đồng. Nay Ngân hàng yêu cầu ông Đ và bà K có nghĩa vụ thanh toán gốc và lãi cho Ngân hàng tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 38.950.985 đồng, trong đó gốc là 35.290.000 đồng, lãi trong hạn 0 đồng, lãi quá hạn 3.660.985 đồng và yêu cầu ông Đ, bà K phải tiếp tục trả khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.

Trường hợp ông Trương Văn Đ và bà Châu Thị K không có khả năng

thanh toán nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án bán đấu giá toàn bộ tài sản thế chấp của ông Trương Văn Đ và bà Châu Thị K theo hợp đồng thế chấp đã ký kết.

* Theo bị đơn ông Trương Văn Đ và bà Châu Thị K cùng thống nhất

trình bày: Ông bà thống nhất các ý kiến trình bày của Ngân hàng, thống nhất đã ký kết hợp đồng tín dụng số 501/16/HĐTD/0200-5332 ngày 11/01/2016 vay số tiền 60.000.000 đồng, thống nhất ý kiến của Ngân hàng về thời gian vay, mục đích vay, số tiền nợ đã thanh toán đồng ý trả nợ gốc và lãi theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Đối với hợp đồng thế chấp tài sản ông Trương Văn Đ và bà Châu Thị K thống nhất theo ý kiến trình bày của Ngân hàng và trong trường hợp ông bà không thanh toán nợ thì ông bà đồng ý để Ngân hàng yêu cầu Cơ quan thi hành án bán đấu giá toàn bộ tài sản thế chấp.

Ông Trương Thanh T, ông Trương Văn H, ông Trương Văn U, bà

Trương Thanh H1, bà Trương Thị Mỹ T1, bà Trương Thị Mỹ D, bà Dương Thị Kim Ch, em Trương Thanh Nh đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp, phiên hòa giải nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do nên Tòa án không ghi nhận ý kiến được.

Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đại diện theo ủy quyền của Ngân

hàng Thương mại Cổ phần KL rút một phần yêu cầu khởi kiện về phần nợ gốc là 6.810.000 đồng do ông Đ và bà K đã thanh toán xong số tiền này.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu phát

biểu quan điểm:

- Về việc tuân theo pháp luật: Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ

vụ án, từ khi thụ lý đến phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ các thủ tục theo đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nên Viện kiểm sát không có kiến nghị gì. Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn anh Trần Quốc Sơn có đơn xin xét xử vắng mặt, đồng bị đơn ông Trương Văn Đ và bà Châu Thị K, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trương Thanh T, ông Trương Văn H, ông Trương Văn U, bà Trương Thanh H1, bà Trương Thị Mỹ T1, bà Trương Thị Mỹ D, bà Dương Thị Kim Ch, em Trương Thanh Nh đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt lần thứ hai nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định.

- Về việc giải quyết vụ án: Giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần KL và

ông Trương Văn Đ và bà Châu Thị K có ký kết hợp đồng tín dụng số 501/16/HĐTD/0200-5332 ngày 11/01/2016. Quá trình thực hiện hợp đồng ông Đ và bà K đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán hợp đồng tín dụng đã ký kết, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu buộc ông Đ, bà K trả nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng là có căn cứ. Để bảo đảm cho khoản vay này ông Trương Văn Đ và bà Châu Thị K đã ký kết hợp đồng thế chấp tài sản số 501/16/HĐTC-BĐS/0200-5332 ngày 11/01/2016. Nội dung và hình thức hợp đồng thế chấp phù hợp và giao dịch được đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định pháp luật, ông Trương Văn Đ và bà Châu Thị K thống nhất để Ngân hàng phát mãi tài sản thế chấp nên yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng là có cơ sở.

Đề nghị Hội đồng xét xử buộc ông Trương Văn Đ và bà Châu Thị K

thanh toán cho ngân hàng số tiền nợ gốc 35.290.000 đồng, lãi trong hạn 0 đồng, lãi quá hạn 3.660.985 đồng và lãi quá hạn trên số tiền nợ gốc tính từ ngày xét xử sơ thẩm đến khi trả hết nợ cho ngân hàng theo hợp đồng tín dụng. Trường hợp ông Đ, bà K không thanh toán được nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền bán đấu giá các tài sản thế chấp để thi hành án. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần KL đối với số tiền nợ gốc là 6.810.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được

thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, quan điểm phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu. Hội đồng xét xử nhận định nội dung vụ kiện như sau:

[1]Về tố tụng: Nguyên đơn có yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ gốc và lãi

theo hợp đồng tín dụng đây là tranh chấp dân sự theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Đồng bị đơn ông Trương Văn Đ và bà Châu Thị K có nơi cư trú tại khóm N, phường H, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu nên theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu. Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn anh Trần Quốc Sơn có đơn xin xét xử vắng mặt, đồng bị đơn ông Trương Văn Đ và bà Châu Thị K, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trương Thanh T, ông Trương Văn H, ông Trương Văn U, bà Trương Thanh H1, bà Trương Thị Mỹ T1, bà Trương Thị Mỹ D, bà Dương Thị Kim Ch, em Trương Thanh Nh đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng nên căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt các đương sự.

[2]Về nội dung vụ án:

Các chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện ngày 11/01/2016, ông Trương Văn

Đ và bà Châu Thị K đã ký kết hợp đồng tín dụng số 501/16/HĐTD/0200-5332 với Ngân hàng Thương mại Cổ phần KL chi nhánh Bạc Liêu để vay số tiền 60.000.000 đồng, thời hạn vay 36 tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiên, lãi suất trong hạn 13,23%/năm, lãi suất cho vay được điều chỉnh 3 tháng một lần và được tính bằng lãi suất tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn 13 tháng lãnh lãi cuối kỳ tại thời điểm thay đổi lãi suất cộng biên độ 4,23%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay ngay trước thời điểm phát sinh nợ quá hạn, lãi được trả hàng tháng và vốn trả cuối kỳ. Quá trình thực hiện hợp đồng ông Đ và bà K đã vi phạm nghãi vụ thanh toán, khoản nợ đã chuyển sang nợ quá hạn nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Đ, bà K thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ theo hợp đồng tín dụng.

Xét yêu cầu của Ngân hàng yêu cầu ông Đ, bà K trả số nợ theo hợp đồng

tín dụng đã ký kết, thấy rằng hợp đồng tín dụng số 501/16/HĐTD/0200-5332 có thể hiện đầy đủ số tiền vay, mục đích vay, thời hạn vay tiền, thời điểm trả nợ, phương thức trả nợ và các điều khoản khác được các bên thỏa thuận. Hợp đồng được các bên tự nguyện ký kết, hình thức, nội dung thỏa thuận của các bên là phù hợp, không trái quy định pháp luật nhưng khách hàng vay đã vi phạm hợp đồng, không thực hiện đúng thỏa thuận đã giao kết trong hợp đồng; phía bị đơn là ông Trương Văn Đ và bà Châu Thị K cũng thừa nhận các khoản vay theo hợp đồng tín dụng và thừa nhận các ý kiến của Ngân hàng trình bày là đúng nên có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần KL đối với ông Trương Văn Đ và bà Châu Thị K, buộc ông Trương Văn Đ và bà Châu Thị K thanh toán cho ngân hàng số tiền nợ gốc 35.290.000 đồng, lãi trong hạn 0 đồng, lãi quá hạn 3.660.985 đồng.

Quá trình giải quyết vụ án đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng Thương

mại Cổ phần KL rút một phần yêu cầu khởi kiện về tiền nợ gốc là 6.810.000 đồng do ông Đ và bà K đã thanh toán số tiền này, đây là sự tự nguyện của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử ghi nhận và đình chỉ xét xử sơ thẩm đối yêu cầu này.

Đối với hợp đồng thế chấp tài sản, để đảm bảo cho khoản vay trên ông

Trương Văn Đ và bà Châu Thị K và Ngân hàng Thương mại Cổ phần KL đã ký kết hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 501/16/HĐTC-BĐS/0200-5332 ngày 11/01/2016, thế chấp quyền sử dụng đất thuộc thửa số 25 tờ bản đồ 15, đã được Ủy ban nhân dân thành phố Bạc Liêu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BĐ 945471 ngày 19/5/2011 cho “Hộ ông Trương Văn Đ”, tổng diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 205,6m2, mục đích sử dụng đất ở tại đô thị, đất tọa lạc tại khóm N, phường H, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. Ngân hàng có yêu cầu trong trường hợp ông Trương Văn Đ và bà Châu Thị K không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc không thanh toán nợ đầy đủ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền bán đấu giá tài sản thế chấp và các tài sản gắn liền với tài sản thế chấp để ngân hàng thu hồi nợ.

Xét nội dung và hình thức của hợp đồng thế chấp là phù hợp với quy

định pháp luật, tài sản thế chấp đã được đăng ký thế chấp theo quy định, ông Trương Văn Đ và bà Châu Thị K cũng thống nhất đồng ý để Ngân hàng Thương mại Cổ phần KL yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền bán đấu giá tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

Đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trương

Thanh T, ông Trương Văn H, ông Trương Văn U, bà Trương Thanh H1, bà Trương Thị Mỹ T1, bà Trương Thị Mỹ D, bà Dương Thị Kim Ch, em Trương Thanh Nh, quá trình Tòa án thụ lý vụ án nhiều lần triệu tập các đương sự nói trên đến Tòa án để trình bày ý kiến, tham gia phiên họp, phiên hòa giải nhưng các đương sự vắng mặt cho thấy các đương sự tự từ bỏ quyền của mình. Đồng thời căn cứ hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông Trương Văn Đ thể hiện nguồn gốc đất “ông Đỗ Văn Kh sử dụng từ trước năm 1975, đến năm 1976 chuyển nhượng lại cho ông Trương Văn Đ (không giấy tờ), từ đó ông Đ sử dụng ổn định đến nay” như vậy cho thấy nguồn gốc đất của ông Đ có từ năm 1976, thời điểm trên các con ông Đ đều chưa đủ 15 tuổi. Từ những nội dung trên có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, ông Trương Thanh T, ông Trương Văn H, ông Trương Văn U, bà Trương Thanh H1, bà Trương Thị Mỹ T1, bà Trương Thị Mỹ D, bà Dương Thị Kim Ch, em Trương Thanh Nh có nghĩa vụ giao lại tài sản thế chấp để thực hiện nghĩa vụ bảo đảm.

Tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất thế chấp là 01 căn nhà loại IV.42,

có kết cấu khung cột bê tông cốt thép, mái fibrociment, đòn tay gỗ dầu, vách xây gạch cao 1m, phía trên lợp thiếc, nền gạch men do ông Trương Văn Đ và bà Châu Thị K xây dựng, do ông Đ và bà K đang quản lý, sử dụng. Tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất như mô tả nói trên không thể hiện tại hợp đồng thế chấp nhưng căn cứ vào khoản 2 Điều 4 hợp đồng thế chấp số 501/16/HĐTC-BĐS/0200-5332 ngày 11/01/2016 có thỏa thuận “nếu tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất thì các tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất đó cũng được xem là tài sản thế chấp cho bên A, ngay cả khi trong hợp đồng thế chấp không mô tải tài sản này”. Từ nội dung trên có cơ sở xác định hợp đồng thế chấp là hợp pháp về nội dung và hình thức vì vậy chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng về phần này.

Như đã nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ đề nghị của

đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tại phiên tòa.

[3] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 885.000 đồng, ông Trương

Văn Đ và bà Châu Thị K phải chịu toàn bộ, Ngân hàng Thương mại Cổ phần KL đã dự nộp 885.000 đồng, ông Đ, bà K có nghĩa vụ hoàn lại cho Ngân hàngThương mại cổ phần Kiên Long 885.000 đồng.

[4] Về án phí:

Ông Trương Văn Đ và bà Châu Thị K có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng

Thương mại Cổ phần KL số tiền nợ gốc 35.290.000 đồng, lãi quá hạn 3.660.985 đồng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định pháp luật, tuy nhiên ông Đ và bà K đã trên 60 tuổi, theo quy định pháp luật là người cao tuổi và có đơn xin miễn toàn bộ án phí nên ông Đ, bà K được miễn toàn bộ án phí.

Ngân hàng Thương mại Cổ phần KL yêu cầu khởi kiện được chấp nhận

toàn bộ nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch, Ngân hàng Thương mại Cổ phần KL đã nộp 1.176.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0007168 ngày 19/10/2020, Ngân hàng Thương mại Cổ phần KL được hoàn lại toàn bộ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39;

khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

- Điều 91; Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng;

- Khoản 2 Điều 325; Điều 463; 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Điểm b khoản 1 Điều 157; Điều 429; điểm d khoản 1 Điều 688 của Bộ

luật Dân sự năm 2015;

- Điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14

ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần KL

đối với ông Trương Văn Đ và bà Châu Thị K

Buộc ông Trương Văn Đ và bà Châu Thị K trả cho Ngân hàng Thương

mại Cổ phần KL số tiền 38.950.985 đồng (Ba mươi tám triệu chín trăm năm mươi nghìn chín trăm tám mươi lăm đồng), trong đó nợ gốc là 35.290.000 đồng, lãi quá hạn tính đến ngày xét xử sơ thẩm 3.660.985 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải

tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

2. Trường hợp ông Trương Văn Đ và bà Châu Thị K không thực hiện

nghĩa vụ thanh toán thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần KL được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền bán đấu giá tài sản thế chấp để thi hành án là quyền sử dụng đất tại thửa số 25 tờ bản đồ 15, đã được Ủy ban nhân dân thành phố Bạc Liêu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BĐ 945471 ngày 19/5/2011 cho “Hộ ông Trương Văn Đ”, tổng diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 205,6m2, mục đích sử dụng đất ở tại đô thị, đất tọa lạc tại khóm N, phường H, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu và tài sản gắn liền với đất là 01 căn nhà loại IV.42, có kết cấu khung cột bê tông cốt thép, mái fibrociment, đòn tay gỗ dầu, vách xây gạch cao 1m, phía trên lợp thiếc, nền gạch men do ông Trương Văn Đ và bà Châu Thị K xây dựng, do ông Đ và bà K đang quản lý, sử dụng.

Buộc ông Trương Thanh T, ông Trương Văn H, ông Trương Văn U, bà

Trương Thanh H1, bà Trương Thị Mỹ T1, bà Trương Thị Mỹ D, bà Dương Thị Kim Ch, em Trương Thanh Nh có nghĩa vụ giao lại tài sản thế chấp để thực hiện nghĩa vụ bảo đảm.

3. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần KL

đối với số tiền nợ gốc 6.810.000 đồng (Sáu triệu tám trăm mười nghìn đồng).

4. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Buộc ông Trương Văn Đ và bà

Châu Thị K hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần KL 885.000 đồng (Tám trăm tám mươi lăm nghìn đồng).

5. Về án phí:

Ông Trương Văn Đ và bà Châu Thị K không phải nộp án phí dân sự sơ

thẩm có giá ngạch.

Ngân hàng Thương mại Cổ phần KL không phải nộp án phí dân sự sơ

thẩm có giá ngạch, Ngân hàng Thương mại Cổ phần KL đã nộp 1.176.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0007168 ngày 19/10/2020, Ngân hàng Thương mại Cổ phần KL được hoàn lại toàn bộ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành

án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án Dân sự.

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong

thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ. Nơi nhận:

Cỡ chữ