vanban.org

Bản án 41/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La Tuyên án 03/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Lò Văn I phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Xử phạt bị cáo Lò Văn I 48 ( Bốn mươi tám ) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày 23/01/2020 ( Ngày bắt giữ bị cáo ). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn I - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SỐP CỘP
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2020/HSST.
Ngày: 03 - 7 - 2020.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm"phán"-"Chủ"toạ"phiên"toà: Ông Nguyễn Kỳ Việt.

Các"Hội"thẩm"nhân"nhân: Ông Lò Trung Thành + Bà Hoàng Thị Kiều.

- Thư ký phiên toà: Bà Tòng Thị Duyên – Thư ký Toà án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Bà Lò Thị Kim – Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 34/2020/HSST ngày 08 tháng 5 năm 2020, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 113/2020/QĐXXST – HS ngày 18 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:

Lò Văn I; tên gọi khác: Không; sinh năm: 1998 tại: Huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản C, xã P B, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt nam; Con ông: Lò Văn C ( Đã chết ) và bà Lường Thị H ( Đã chết ); bị cáo chưa có vợ; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/01/2020 tại nhà tạm giữ Công an huyện Sốp Cộp, cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi liên quan: Ông Lường Văn B, sinh năm: 1979, nơi cư trú: Bản C, xã P B, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 20 giờ 00 phút ngày 23/01/2020, tại khu vực bản Men, xã Dồm Cang, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, tổ công tác Công an huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La phối hợp với Công an xã Dồm Cang phát hiện bắt quả tang đối tượng Lò Văn I ( Sinh năm: 1998, trú tại: Bản C, xã P B, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La) về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng của đối tượng gồm:

- 01 gói ni lon màu xanh, bên trong có chứa 49 viên nén màu hồng ( Nghi là ma túy tổng hợp );

- 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại WAVES, BKS: 26B1 - 760.96;

Vào hồi 11 giờ 30 phút ngày 27/01/2020, tại phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, đã tiến hành cân tịnh số vật chứng là 49 viên nén màu hồng thu giữ của đối tượng Lò Văn I có khối lượng 4,82 gam. Lấy 05 viên nén có khối lượng 0,49 gam ký hiệu I làm mẫu vật gửi giám định. Số còn lại 44 viên có khối lượng 4,33 gam ký hiệu I1 lưu kho vật chứng.

Tại bản Kết luận giám định số: 270 ngày 30/01/2020 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu I là ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,49 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 4,82 gam, loại Methamphetamine.

Tại Cơ quan CSĐT Công an huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, bị can Lò Văn Iđã khai nhận hành vi phạm tội như sau:

Vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 23/01/2020, trong khi Lò Văn I từ nhà ở bản Cọ, xã Púng Bánh, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La điều khiển xe mô tô BKS: 26B1 - 760.96 đến khu vực nghĩa trang liệt sĩ thuộc bản Sốp Nặm, xã Sốp Cộp, huyện Sốp Cộp với mục đích tàm mua ma túy về sử dụng. Khi đến bản Sốp Nặm thì I gặp một người đàn ông không quen biết đang ngồi trên xe mô tô đỗ bên lề đường tự giới thiệu tên là L, I đã hỏi và mua được của người đó 49 viên ma túy được gói bằng mảnh ni lon màu xanh với giá 1.000.000đ ( Một triệu đồng ). Sau khi mua được ma túy thì I cầm gói ma túy trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe mô tô về nhà, trên đường về đến khu vực bản Men, xã Dồm Cang, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La thì bị tổ công tác Công an huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La phối hợp với Công an xã Dồm Cang phát hiện bắt quả tang cùng với vật chứng là gói ma túy như đã nêu ở trên.

Tại bản Cáo trạng số: 34/CT - VKS ngày 06/5/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, đề nghị truy tố bị can Lò Văn I về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, giữ quan điểm truy tố bị cáo Lò Văn I, với tội danh và điều khoản luật áp dụng như trên.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;

- Tuyên bố bị cáo Lò Văn I phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý và xử phạt bị cáo mức án từ 42 đến 48 tháng tù.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền được quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, đối với bị cáo.

Xử lý vật chứng:

Đề nghị áp dụng điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật hình sự;

2

- Tuyên tịch thu tiêu huỷ số vật chứng gồm: 4, 33 gam Methamphetamine; 01 phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh ni lon màu xanh.

- Tuyên trả lại cho người có quyền lợi liên quan là Lường Văn B 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại WAVE S, BKS: 26B1 - 760.96.

Về án phí: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Buộc bị cáo nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Tại phiên tòa bị cáo I có ý kiến: Thừa nhận ngày 23/01/2020 đã bị bắt quả tang về hành vi tàng trữ 4,82 gam Methamphetamine để sử dụng cho bản thân. Nay bị cáo đã biết tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét việc bị cáo thành khẩn khai báo mà giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa người có quyền lợi liên quan Lường Văn B có ý kiến: Ngày 23/01/2020 có cho bị cáo Lò Văn I ( Cháu ruột ) có mượn xe mô tô BKS: 26B1 - 760.96, sau khi mượn được xe bị cáo tự ý sử dụng làm phương tiện đi mua ma túy ông Bánh không biết. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử trả lại chiếc xe mô tô nêu trên cho ông Bánh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về nội dung: Ngày 23/01/2020, bị cáo Lò Văn I ( Có"căn"cước"lý"lịch" như" trên ) đã thực hiện hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý ( 4,82 gam Methamphetamine ) nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự để nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Xét lời khai nhận của bị cáo phù hợp với vật chứng thu giữ là ma túy; kết luận giám định về ma túy và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Trên cơ sở đó đã đủ căn cứ kết luận bị cáo Lò Văn I đã phạm vào tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Như quan điểm truy tố và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tại Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:

3

“"1."Người"nào"tàng"trữ"trái"phép"chất"ma"tuý"mà"không"nhằm"mục"đích" mua"bán,"vận"chuyển,"sản"xuất"trái"phép"chất"ma"túy"thuộc"một"trong"các"trường" hợp"sau"đây,"thì"bị"phạt"tù"từ"01"năm"đến"05"năm:" "

c)"Heroine,"Cocaine,Methamphetamine,"Amphetamine,"MDMA"hoặc"XLR-11"có"khối"lượng"từ"0,1"gam"đến"dưới"05"gam;" "

5." Người" phạm" tội" còn" có" thể" bị" phạt" tiền" từ" 5.000.000" đồng" đến" 500.000.000"đồng,"cấm"đảm"nhiệm"chức"vụ,"cấm"hành"nghề"hoặc"làm"công"việc" nhất"định"từ"01"năm"đến"05"năm"hoặc"tịch"thu"một"phần"hoặc"toàn"bộ"tài"sản."."

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội bởi tội phạm bị cáo thực hiện đã xâm phạm đến lĩnh vực độc quyền thống nhất quyền quản lý nhà nước về các chất ma tuý. Cụ thể hành tàng trữ trái phép chất ma tuý nhằm sử dụng cho bản thân trước là xâm hại đến chính sức khỏe của bị cáo, sau là hành vi tiếp tay cho loại tội phạm khác như mua bán, vận chuyển trái phép chất ma tuý trong xã hội gia tăng, làm mất trật tự an ninh ở địa phương. Tội phạm bị cáo thực hiện thuộc trường hợp nghiêm trọng, do đó cần phải áp dụng một hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian đủ mức trừng trị răn đe, giáo dục và cải tạo bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội.

Tình tiết tăng nặng: Không.

Tình tiết giảm nhẹ: Xét quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năm hối lỗi. Nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo đang bị tạm giam, cần tiếp tục giam giữ bị cáo trong hạn 45 ngày, kể từ ngày tuyên án theo quy định tại khoản 1, 3 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự. Căn cứ vào kết quả xác minh xác định bị cáo không có khả năng thi hành nên Hội đồng xét xử không áp dụng.

Xử lý vật chứng:

- Đối với 4,33 gam Methamphetamine ( Số còn lại sau khi trích rút 0,49 gam gửi giám định ) là chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo và là vật nhà nước cấm lưu hành. Cần áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Để tuyên tịch thu tiêu hủy cùng với 01 phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh ni lon màu xanh.

- Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 26B1 - 760.96. Kết quả điều tra cũng như tại phiên tòa xác định: Chiếc xe thuộc quyền quản lý hợp pháp của ông Lường Văn B, sinh năm: 1979, nơi cư trú: Bản Cọ, xã Púng bánh, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La. Việc sau khi mượn xe bị cáo tự ý sử dụng làm phương tiện đi mua ma túy, ông B không biết. Do vậy cần áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ

4

luật tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; để tuyên trả lại chiếc xe cho ông Lường Văn Bánh.

Đối với nguồn gốc ma túy bị bắt giữ, theo bị cáo khai do mua của 01 người đàn ông tên L không quen biết tại khu vực bản Sốp Nặm, xã Sốp Cộp, huyện Sốp Cộp vào ngày 23/01/2020. Quá trình điều tra do bị cáo không cung cấp được họ tên, tuổi, địa chỉ và đặc điểm nhận dạng cụ thể của đối tượng. Nên không có cơ sở để điều tra xử lý.

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm, theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án, theo quy định tại các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;

- Tuyên bố bị cáo Lò Văn I phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

- Xử phạt bị cáo Lò Văn I 48 ( Bốn mươi tám ) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày 23/01/2020 ( Ngày bắt giữ bị cáo ).

Căn cứ khoản 1, 3 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Tiếp tục tạm giam bị cáo Lò Văn I trong hạn 45 ( Bốn"mươi"lăm ) ngày, kể từ ngày tuyên án, để đảm bảo biện pháp thi hành án phạt tù.

2. Xử lý vật chứng:

Căn cứ điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật hình sự;

- Tuyên tịch thu tiêu huỷ:

+ 01 phong bì màu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La đã được niêm phong dán kín, một mặt phong bì ghi: " Vật"chứng"lưu"kho"vụ"Lò"Văn" I,"sinh"năm:"1998,"trú"tại:"bản"Cọ,"xã"Púng"Bánh,"huyện"Sốp"Cộp,"tỉnh"Sơn"La,"về" hành"vi"tàng"trữ"trái"phép"chất"ma"túy,"bắt"ngày"23/01/2020."Bên"trong"phong"bì" có"01"phong"bì"niêm"phong"ban"đầu"đã"bóc"mở;"01"mảnh"ni"lon"màu"xanh"ký"hiệu" I1"có"chứa"44"("Bốn"mươi"bốn")"viên"nén"hình"trụ"tròn"màu"hồng")"có"khối"lượng" 4,33"g"("Bốn"phẩy"ba"mươi"ba"gam)"niêm"phong"ngày"27/01/2020". Mặt còn lại của phong bì, dán giấy niêm phong của Công an tỉnh Sơn La số:010304 vào mép dán của phong bì, trên mép dán giấy niêm phong có đầy đủ chữ ký, họ tên của các thành phần tham gia niêm phong, chữ ký, họ tên của người bị bắt Lò Văn I và hai hình dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La.

5

- Tuyên trả lại cho người có quyền lợi liên quan là anh Lường Văn B: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVES, màu đỏ, mang biển kiểm soát: 26B1

- 760.96, số khung: RLHJC5216CY266949, số máy: JC52E-4397804, xe đã qua sử dụng.

3. Án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

- Buộc bị cáo nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

4. Quyền kháng cáo:

Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Báo cho bị cáo và người có quyền lợi liên quan biết quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ