vanban.org

Bản án 41/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Mộc Châu, tỉnh Sơn La Tuyên án 24/11/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Vì Văn U (Tên gọi khác: Vì Văn M) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Vì Văn U (Tên gọi khác: Vì Văn M) 22 (Hai mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 12/9/2020. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vì Văn U (Tên gọi khác: Vì Văn M) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỘC CHÂU
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2020/HS-ST
Ngày 24/11/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Long Bình.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Cầm Thị Đoa và ông Tường Duy Bình.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Trang, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thủy, Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 39/2020/TLST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 37/2020/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2020 đối với:

Vì Văn U (Tên gọi khác: Vì Văn M), sinh ngày: 13/5/1996 tại huyện M, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vì Văn N và bà Vì Thị M; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 24/5/2017 Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vì Văn U với thời hạn 24 tháng, chấp hành xong ngày 24/5/2019 (chưa được xóa tiền sự); bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/9/2020 đến nay; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 09 giờ 05 phút ngày 12/9/2020, tổ công tác Công an xã M, huyện M làm nhiệm vụ tại bản N, xã M tiến hành kiểm tra đối với Vì Văn U đang đi bộ trên đường dân sinh. Qua kiểm tra, phát hiện U đang cất giấu trong túi quần bên phải 01 gói nilon màu xanh bên trong đựng cục chất bột màu trắng nghi là Heroine. Vì Văn U khai nhận đó là gói Heroine của U cất giấu để sử dụng cho bản thân nghiện chất ma túy. Căn cứ hành vi vi phạm của Vì Văn U, tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng và dẫn giải U đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu để điều tra làm rõ.

Ngày 12/9/2020, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu đã tiến hành mở niêm phong, cân tịnh xác định khối lượng chất cục bột màu trắng thu giữ của Vì Văn U có khối lượng 0,17 gam. Lấy toàn bộ làm mẫu giám định, mẫu có ký hiệu U.

Tại Kết luận giám định số 1464 ngày 15/9/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu U là ma tuý; Loại Heroine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,17 gam; Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 0,17 gam; Loại Heroine. Hoàn lại đối tượng giám định: Chất bột màu trắng thuộc mẫu gửi giám định ký hiệu U không sử dụng đến trong quá trình giám định, có khối lượng là 0,09 gam”.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Vì Văn U khai nhận: Bản thân là người nghiện chất ma tuý. Khoảng 12 giờ ngày 11/9/2020, U đi bộ từ nhà đến xã Đ, huyện M mục đích tìm mua ma tuý để sử dụng. Trên đường dân sinh bản C, xã Đ, U gặp và mua được của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết 01 gói Heroine được gói bằng mảnh nilon màu xanh với giá 100.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý, U mang về nhà lấy ra một ít sử dụng rồi gói lại như cũ. Đến sáng ngày 12/9/2020, U để gói Heroine vào túi quần bên phải rồi đi bộ đi làm, trên đường đi bị tổ công tác Công an xã M kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang.

Tại phiên tòa bị cáo Vì Văn U trình bày ý kiến, giữ nguyên lời khai của mình, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung nào làm thay đổi nội dung vụ án. Bị cáo nhận tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Đối với người đàn ông dân tộc Mông đã bán ma tuý cho Vì Văn U như U khai nhận, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu không có căn cứ để điều tra, làm rõ và xử lý.

Cáo trạng số 193/CT-VKS ngày 10/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu truy tố bị can Vì Văn U về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vì Văn U phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và áp dụng các căn cứ pháp luật như sau:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Vì Văn U từ 21 tháng đến 24 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a , c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong bên ngoài ghi vật chứng vụ: Vì Văn U, bắt ngày 12/9/2020, bên trong đựng vỏ gói nilon màu xanh và vỏ gói niêm phong ban đầu; 01 ( một) phong bì niêm phong bên ngoài ghi test thử ma túy của Vì Văn U, SN: 1996, HKTT: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La. KQ: Dương tính; 01 (một) phong bì niêm phong bên ngoài ghi vật chứng vụ: Vì Văn U – Tàng trữ trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 12/9/2020 tại xã Mường Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La, niêm phong hồi 08 giờ 00 phút ngày 17/9/2020 tại Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La gồm có: Phong bì niêm phong mẫu gửi giám định đã bóc mở và chất bột màu trắng thuộc mẫu gửi giám định ký hiệu U không sử dụng đến trong quá trình giám định có khối lượng 0,09 gam.

3. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

Sau khi Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm xử lý các vấn đề của vụ án. Bị cáo nhất trí với cáo trạng và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Mộc Châu, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Vì Văn U khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan Điều tra, số ma túy bị tổ công tác Công an xã M, huyện Mộc Châu thu giữ của bị cáo vào ngày 12/9/2020 có nguồn gốc mua được của một người đàn ông dân tộc Mông với giá 100.000 đồng, mục đích sử dụng cho bản thân. Lời khai của bị cáo không có nội dung gì thay đổi so với lời khai tại cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi đã thực hiện.

Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do tổ công tác Công an xã M, huyện Mộc Châu lập vào hồi 09 giờ 10 phút ngày 12/9/2020; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong xác định số lượng, khối lượng, lấy mẫu giám định, niêm phong lại vật chứng đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; bản kết luận giám định số 1464 ngày 15/9/2020 của phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận “Mẫu gửi giám định ký hiệu U là ma tuý; Loại Heroine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,17 gam; Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 0,17 gam; Loại Heroine” nằm trong danh mục I, số thứ tự 9 Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ của Cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Vì Văn U là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của việc tàng trữ, sử dụng ma túy. Nhưng do nghiện chất ma túy nên ngày 12/9/2020 bị cáo Vì Văn U đã có hành vi tàng trữ, cất giấu trái phép 0,17 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của bị cáo Vì Văn U không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

Xét về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Bị cáo được hưởng hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là trong quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo có ông nội là Vì Văn Q tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhì. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần xem xét áp dụng đối với bị cáo.

Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo là người có nhân thân xấu đó là: Ngày 24/5/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng (chưa được xóa tiền sự).

Từ những đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) đến 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng). Hội đồng xét xử xét thấy quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa thấy rằng bị cáo không có tài sản gì có giá trị, là người nghiện ma tuý, không có điều kiện thi hành hình phạt bổ sung, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng, xử lý vật chứng:

Đối với 01 (một) phong bì niêm phong bên ngoài ghi vật chứng vụ: Vì Văn U, bắt ngày 12/9/2020, bên trong đựng vỏ gói nilon màu xanh và vỏ gói niêm phong ban đầu; 01 ( một) phong bì niêm phong bên ngoài ghi test thử ma túy của Vì Văn U, SN: 1996, HKTT: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La. KQ: Dương tính; 01 (một) phong bì niêm phong bên ngoài ghi vật chứng vụ: Vì Văn U – Tàng trữ trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 12/9/2020 tại xã Mường Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La, niêm phong hồi 08 giờ 00 phút ngày 17/9/2020 tại Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La gồm có: Phong bì niêm phong mẫu gửi giám định đã bóc mở và chất bột màu trắng thuộc mẫu gửi giám định ký hiệu U không sử dụng đến trong quá trình giám định có khối lượng 0,09 gam. Xét thấy đây là những vật thuộc loại Nhà nước cấm mua bán, lưu hành, tàng trữ, vật không có giá trị sử dụng. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a , c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.

Về các vấn đề khác: Đối với người đàn ông dân tộc Mông đã bán ma túy cho Vì Văn U tại khu vực đường dân sinh của bản Co Sung, xã Đông Sang, huyện Mộc Châu. Quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ. Do đó, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu không có căn cứ để điều tra, làm rõ và xử lý.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) phù hợp với khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tiếp tục tạm giam bị cáo Vì Văn U để đảm bảo cho việc thi hành án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Vì Văn U (Tên gọi khác: Vì Văn M) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Vì Văn U (Tên gọi khác: Vì Văn M) 22 (Hai mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 12/9/2020.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a , c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Về vật chứng của vụ án:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong bên ngoài ghi vật chứng vụ: Vì Văn U, bắt ngày 12/9/2020, bên trong đựng vỏ gói nilon màu xanh và vỏ gói niêm phong ban đầu; 01 ( một) phong bì niêm phong bên ngoài ghi test thử ma túy của Vì Văn U, SN: 1996, HKTT: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La. KQ: Dương tính; 01 (một) phong bì niêm phong bên ngoài ghi vật chứng vụ: Vì Văn U – Tàng trữ trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 12/9/2020 tại xã Mường Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La, niêm phong hồi 08 giờ 00 phút ngày 17/9/2020 tại Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La gồm có: Phong bì niêm phong mẫu gửi giám định đã bóc mở và chất bột màu trắng thuộc mẫu gửi giám định ký hiệu U không sử dụng đến trong quá trình giám định có khối lượng 0,09 gam.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Vì Văn U (Tên gọi khác: Vì Văn M) phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn).

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ