- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lô Thị T - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Lô Thị T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ PHONG TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2020/HS-ST Ngày 16/7/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ PHONG, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Công Phong.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Lương và ông Mong Thái Dương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Huyền Anh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Q tham gia phiên toà:
Bà Lang Thị Ngọc Trang, Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 năm 2020, tại Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 33/2020/TLST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2020, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2020/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:
Lô Thị T; Tên gọi khác: Không; sinh năm 1975, tại huyện Q, tỉnh Nghệ An.
Nơi cư trú: Bản N, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Nguyên trồng trọt; trình độ học vấn: Không học; dân tộc: Thái; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lô Văn Ph; con bà: Lô Thị Ph (Đã chết); chồng: Vi Văn T (Đã ly hôn); Con có 02 người; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/3/2020. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Lô Thị T: Ông Nguyễn Thái Quỳnh, Trợ giúp viên trợ giúp pháp lý, chi nhánh trợ giúp pháp lý số 2 thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Điều tra viên: Ông Vi Văn Q, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Người phiên dịch: Bà Lang Thị V, sinh năm 1979; trú tại bản Ph, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 01/3/2020 Lô Thị T xin một gói ma túy với hai người đàn ông không quen biết đưa về cất giấu. Ngày 03/3/2020 Lô Thị T đưa gói ma túy ra gói lại để trả công cho những người đến làm nhà giúp, thì bị bắt quả tang. Thu một gói chất bột màu trắng. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Q kiểm tra thu dưới góc vườn cạnh nhà bị cáo 01 gói chất bột màu trắng và 01 túi đựng viên nén màu hồng.
Tại cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Q qua xác định trọng lượng gói chất bột màu trắng thu giữ của Lô Thị T có khối lượng 0,2 gam. Gói chất bột màu trắng thu giữ ở góc vườn nhà Lô Thị T có khối lượng 0,69 gam. Gói viên nén màu hồng thu giữ ở góc vườn nhà Lô Thị T có tổng khối lượng 12,5 gam.
Bản kết luận giám định số 360/KL- PC09(Đ2-MT) ngày 09/3/2020 của phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận:
Mẫu chất bột màu trắng (Ký hiệu M2) thu giữ trong gian bếp của Lô Thị T gửi tới giám định là Heroine. Số chất bột màu trắng thu giữ của Lô Thị T có khối lượng 0,2 gam (Không phẩy hai gam).
Mẫu chất bột màu trắng (Ký hiệu M1) thu giữ bên cạnh hồi nhà của Lô Thị T gửi tới giám định là Heroine. Số chất bột màu trắng thu giữ bên cạnh hồi nhà của Lô Thị T có khối lượng 0,69 gam (Không phẩy sáu mươi chín gam).
Mẫu viên nén màu hồng thu giữ bên cạnh hồi nhà của Lô Thị T gửi tới giám định là Methamphetamine. Số viên nén màu hồng thu giữ bên cạnh hồi nhà của Lô Thị T có khối lượng 12,5 gam (Mười hai phẩy năm gam).
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Lô Thị T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Cụ thể: Vào lúc 17 giờ, ngày 03/3/2020 tại bản N, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An, Lô Thị T đang cất giấu trái phép chất ma túy thì bị bắt quả tang; thu của bị cáo 0,2 gam Heroine. Mục đích bị cáo cất giấu ma túy là để trả tiền công cho người đến làm nhà giúp. Còn 0,69 gam Heroine và 12,5 gam Methamphetamine thu ở dưới vườn cạnh hồi nhà không phải của bị cáo.
Cáo trạng số 34/CT-VKS- HS ngày 20/5/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Lô Thị T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Đối với người cho bị cáo ma túy, do không xác minh được họ tên và địa chỉ, nên không có cơ sở để điều tra xử lý.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Q vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như bản cáo trạng đã kết luận và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lô Thị T từ 02 năm đến 2 năm 06 tháng tù.
Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại; miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Người bào chữa không tranh luận về tội danh và đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ và xử phạt bị cáo 02 năm tù; miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án: Mặc dù không được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép, nhưng vào lúc 17 giờ, ngày 03/3/2020 tại bản N, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An, bị cáo Lô Thị T cất giấu trái phép chất ma túy thì bị bắt quả tang. Thu 0,2 gam Heroine. Mục đích bị cáo cất giấu ma túy là để trao đổi, mua bán. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến sự độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước. Đối với số ma túy thu được ở vườn nhà bị cáo do không chứng minh được là của bị cáo, nên không có cơ sở kết tội bị cáo theo khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Do đó bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết nhân thân, tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm phạm trực tiếp đến sự độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, mà còn làm ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe, nòi giống của con người, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng. Vì vậy cần xét xử nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt có ích cho xã hội, răn đe và phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên sau khi phạm tội bị cáo khai báo thành khẩn, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Q đề nghị xử phạt bị cáo Lô Thị T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù; người bào chữa đề nghị xử phạt bị cáo 02 năm tù. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa là hợp lý.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy, bị cáo không có việc làm ổn định, thu nhập thấp, điều kiện kinh tế khó khăn, không có tài sản đáng giá. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Đối với 0,2 gam Heroine thu giữ của bị cáo. Cơ quan điều tra đã lấy đi giám định chất ma túy hết, còn lại vỏ gói không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 0,69 gam Heroine thu giữ trong vườn bị cáo, cơ quan điều tra đã lấy đi giám định chất ma túy 0,2 gam, còn lại 0,49 gam; đối với 12,5 gam Methamphetamine thu ở vườn bị cáo, cơ quan điều tra đã lấy đi giám định chất ma túy 1 gam, còn lại 11,5 gam. Đây không phải là vật chứng trong vụ án này, nên cần trả lại cho cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Q để điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo bị kết án, nên phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Lô Thị T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Phạt Lô Thị T 02 (Hai) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 03/3/2020.
Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 298 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ vỏ gói ma túy thu giữ của bị cáo Lô Thị T; phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu.
Trả lại cho cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Q 0,49 (Không phẩy bốn mươi chín) gam Heroine; 11,5 (Mười một phẩy năm) gam Methamphetamine.
Chi tiết vật chứng được ghi cụ thể trong biên bản giao nhận ngày 15/5/2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Q với Chi cục thi hành án dân sự huyện Q, tỉnh Nghệ An.
Căn cứ vào Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lô Thị T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Lô Thị T có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - Bị cáo. - VKSND huyện Q. -VKSND tỉnh Nghệ An. - Công an huyện Q. - Chi cục THA DS huyện Q. - Trại tạm giam; trại giam. - Sở tư pháp; UBND xã nơi bị cáo cư trú. - Lưu VP,THAHS, Hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Công Phong |