- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "DƯơng Thị Thúy V ly hôn với Lê Văn S"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị Thúy V.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2020/HNGĐ - ST Ngày 04 tháng 6 năm 2020 V/v tranh chấp “Ly hôn, nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Tiên.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Văn Kiệt.
2. Bà Nguyễn Thị Hơn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Trúc Linh – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Tân - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số 55/2020/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2020 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2020/QĐXXST-HN ngày 22 tháng 4 năm 2020 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Dương Thị Thúy V, sinh năm 1991 (Có mặt).
Địa chỉ: ấp ĐT, xã LBĐ, huyện CG, tỉnh TG.
Bị đơn: Ông Lê Văn S, sinh năm 1985 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp PT, xã TMC, thành phố MT, tỉnh TG.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn ly hôn, bản tự khai, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nguyên đơn chị Dương Thị Thúy V trình bày: Chị và anh S cưới nhau do tự nguyện vào năm 2009, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Mỹ Chánh, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống không hạnh phúc, đến nay tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn P sinh do anh S thường xuyên tham gia cờ bạc, tụ tập ăn chơi cùng bạn bè mà không lo làm việc khiến kinh tế gia đình ngày càng khó khăn. Chị đã nhiều lần khuyên nhủ anh S nhưng không thay đổi. Đến giữa năm 2018 thì vợ chồng sống ly thân, chị cùng 02 con về sống chung mẹ ruột tại xã Long Bình Điền, huyện Chợ Gạo. Tháng 10/2018 chị đã nộp đơn xin ly hôn với anh S. Sau đó anh S có cam kết sẽ thay đổi, không cờ bạc và sẽ chăm lo làm việc nên chị đã rút đơn. Đến nay anh S không thay đổi mà lại tiếp tục tham gia cờ bạc nhiều hơn, không có thái độ thay đổi bản thân để chăm lo cho gia đình, hàn gắn tình cảm vợ chồng.
Nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về hôn nhân: Chị yêu cầu được ly hôn với anh Lê Văn S.
- Về con chung: có 02 con chung tên Lê Văn P, sinh 27/8/2011 và Lê Thị Kim L, sinh ngày 05/5/2018 hiện đang sống với mẹ. Khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con, không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không có.
- Về nợ chung: Không có.
* Bị đơn anh Lê Văn S đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng anh vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay.
Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng quy định pháp luật. Về việc giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy:
.Về tố tụng:
Chị Dương Thị Thúy V yêu cầu được ly hôn với anh Lê Văn S. Anh S có nơi cư trú tại thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang. Căn cứ qui định khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định tranh chấp ly hôn, nuôi con, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho.
Anh Lê Văn S đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo đúng qui định tại các Điều 174, Điều 177 Bộ luật tố tụng dân sự nhưng anh vẫn vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh S.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị V và anh S cưới nhau vào năm 2009, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Mỹ Chánh, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang vào ngày 09/10/2009 nên là hôn nhân hợp pháp.
Theo chị V trình bày quá trình chung sống vợ chồng không hạnh phúc vì chồng ham mê cờ bạc, không lo làm việc phụ kinh tế gia đình, chị đã một lần yêu cầu ly hôn nhưng chồng hứa sửa đổi nên chị đã cho chồng cơ hội nhưng đến nay vẫn không thay đổi được gì. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2018 đến nay. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu ly hôn.
Anh Lê Văn S vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng không có văn bản trình bày ý kiến xem như anh từ bỏ các quyền của mình theo quy định tại Điều 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Xét thấy, mối quan hệ hôn nhân giữa chị V và anh S là không thể hàn gắn vì đời sống chung vợ chồng không có, mục đích hôn nhân không đạt được. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2018, thời gian xa cách đã lâu mà không có biện pháp nào hàn gắn. Chị V và các con đã về nhà cha mẹ ruột ở, nhưng anh S cũng không quan tâm hay hỏi han về vợ con. Còn anh S đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng, nhưng anh vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết cũng không có văn bản trình bày ý kiến, thể hiện sự bỏ mặc, không tha thiết hàn gắn mối quan hệ vợ chồng với chị V. Do đó, căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị V, cho chị được ly hôn với anh S.
Về con chung: có 02 con chung tên Lê Văn P, sinh ngày 27/8/2011 và Lê Thị Kim L, sinh ngày 05/5/2018 hiện đang sống với mẹ. Khi ly hôn chị V yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con, không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con. Xét yêu cầu này của chị V là phù hợp vì hiện tại các con đã theo chị V mà anh S thì đã bỏ đi không liên lạc quan tâm gì đến con. Cháu P cũng có nguyện vọng ở với mẹ, còn cháu L thì còn quá nhỏ, vì vậy để đảm bảo sự ổn định cho cháu nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình tiếp tục giao cháu P và cháu L cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chị V không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung không có.
Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.
Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chị Dương Thị Thúy V phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị Thúy V.
1/ Về quan hệ hôn nhân: Chị Dương Thị Thúy V được ly hôn với anh Lê Văn S.
2/ Về con chung: Giao 02 con chung tên Lê Văn P, sinh 27/8/2011 và Lê Thị Kim L, sinh ngày 05/5/2018 cho chị Dương Thị Thúy V trực tiếp nuôi dưỡng.
Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung theo qui định của pháp luật.
3/ Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4/ Về nợ chung: Không có.
5/ Về án phí: Chị Dương Thị Thúy V phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001039 ngày 06 tháng 02 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho nên chị đã nộp xong.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, chị V có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử lại theo trình tự phúc thẩm. Anh S được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: -VKSND TPMT; - UBND xã Tân Mỹ Chánh, TPMT - Các đương sự; - Lưu. CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ CÁC THÀNH VIÊN HĐXX | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mỹ Tiên THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mỹ Tiên THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mỹ Tiên |