vanban.org

Bản án 41/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M T đối với bị đơn ông Ngô Văn S.

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị M T được ly hôn với ông Ngô Văn S. Về con chung: Giao con Ngô Quế A, sinh ngày 26/4/2019 cho bà Nguyễn Thị M T trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị M T không yêu cầu ông Ngô Văn S cấp dưỡng nuôi con Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa bà Nguyễn Thị M T và ông Ngô Văn S"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M T đối với bị đơn ông Ngô Văn S.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ GIÁO
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2020/HNGĐ-ST
Ngày 24 - 9 - 2020
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi
con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Th nh ph n H i ng

h g c :

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mùi.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Thị Phương Dung;

Ông Hồ Doãn Vinh.

- Thư ký phiên toà: Ông Hồ Phúc Vĩnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiể á nhân dân huyện Phú Giáo, ỉnh Bình Dư ng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở TAND huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 195/2020/TLST-HNGĐ ngày 03/6/2020 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 14/8/2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị M T, sinh năm 1993; Địa chỉ: Tổ A, ấp B, xã P, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin xét xử vắng mặt

- Bị đơn: Ông Ngô Văn S, sinh năm 1991; Địa chỉ: Khu tập thể trại giam P - ấp A, xã P, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Nguyễn Thị M T trình bày:

- Về hôn nhân: Bà và ông Ngô Văn S chung sống với nhau từ năm 2018 trên cơ sở được tìm hiểu tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã P, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương ngày 01 tháng 11 năm 2018. Quá trình chung sống lúc đầu vợ chồng có hạnh phúc sau đó thì không hạnh phúc nữa do phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm về lối sống, thường xuyên cãi nhau. Hiện tại vợ chồng đã sống ly thân, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Mâu thuẫn gia đình đã đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà kiên quyết ly hôn với ông Ngô Văn S.

- Về con chung: Ông bà có 01 con chung là Ngô Quế A, sinh ngày 26/4/2019. Bà T yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai bị đơn ông Ngô Văn S trình bày:

- Về hôn nhân: Ông và Bà T chung sống vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. Quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, Bà T có mối quan hệ với người đàn ông khác. Tuy nhiên, ông còn thương yêu vợ con nên không đồng ý ly hôn.

- Về con chung: Ông bà có 01 con chung là Ngô Quế A, sinh ngày 26/4/2019. Khi ly hôn ông giao con chung cho Bà T nuôi dưỡng, không cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng, của những người tiến hành tố tụng, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Toà án, đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn do có nhiều mâu thuẫn, không hợp nhau, bị đơn không đồng ý ly hôn nhưng không có phương án hàn gắn tình cảm vợ chồng, nguyên đơn không muốn hàn gắn hôn nhân với bị đơn.

Về con chung: Xét điều kiện về nuôi con, hiện tại cháu Ngô Quế A, sinh ngày 26/4/2019 còn nhỏ nên đề nghị HĐXX giao con chung cho nguyên đơn nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa; sau khi Kiểm sát viên phát biểu về việc chấp hành pháp luật tố tụng dân sự của người tiến hành tố tụng và của đương sự, về nội dung vụ án, HĐXX nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khi thụ lý vụ án bị đơn cư trú tại: Xã P, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự tại phiên tòa: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị M T có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Ngô Văn S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt. Vì vậy, HĐXX quyết định xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Nguyên đơn, bị đơn chung sống vợ chồng tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương ngày 01/11/2018, là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Quá trình chung sống, nguyên đơn trình bày có mâu thuẫn xảy ra do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm, hiện đã ly thân và không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Tình cảm vợ chồng đã không còn, mâu thuẫn không hàn gắn được nên nguyên đơn yêu cầu được ly hôn với bị đơn. Bị đơn cho rằng vợ chồng có mâu thuẫn do bất đồng quan điểm nhưng ông còn thương yêu vợ con nên không đồng ý ly hôn.

HĐXX xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa nguyên đơn và bị đơn đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, việc xin ly hôn của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, bị đơn không đồng ý ly hôn nhưng không có biện pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng. Vì vậy, HĐXX chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn đối với bị đơn theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Căn cứ vào lời khai nhận của đương sự, bản sao giấy khai sinh, xác định nguyên đơn và bị đơn có với nhau 01 con chung tên là Ngô Quế A, sinh ngày 26/4/2019. Nguyên đơn yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, bị đơn nhường quyền trực tiếp nuôi con chung cho nguyên đơn nuôi dưỡng. HĐXX xét các điều kiện về nuôi con, sự ổn định tâm lý của trẻ, con chung dưới 36 tháng tuổi nên giao con chung Ngô Quế A cho nguyên đơn nuôi dưỡng là phù hợp. Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết nên HĐXX không đặt ra xem xét.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về nội dung vụ án là có căn cứ nên HĐXX chấp nhận.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, các Điều 227, 228, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Các Điều 9, 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

- Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M T đối với bị đơn ông Ngô Văn S.

1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị M T được ly hôn với ông Ngô Văn S.

2. Về con chung: Giao con Ngô Quế A, sinh ngày 26/4/2019 cho bà Nguyễn Thị M T trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị M T không yêu cầu ông Ngô Văn S cấp dưỡng nuôi con

Không ai được cản trở ông Ngô Văn S trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì quyền lợi hợp pháp, chính đáng của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con khi đương sự có yêu cầu phù hợp với quy định của pháp luật.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị M T phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số AA/2016/0043316, ngày 01 tháng 6 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. N i nhận:

Cỡ chữ