- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? TAND tỉnh Bình Thuận;
- Căn cứ chính? Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2020/HNGĐ-ST Ngày: 21/8/2020 V/v: “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC,
TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Kim Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Đặng Văn Minh
2/ Bà Phan Thị Nhâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
Ngày 21 tháng 8 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 108/2020/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2020, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/7/2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2020/QĐST-HNGĐ ngày 29/7/2020, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trần Thị Bích N, sinh năm 1996
Địa chỉ: Thôn 3, xã Hồng Sơn, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
Bị đơn: Anh Dương Quốc H, sinh năm 1990
Địa chỉ: Khu phố P, thị trấn P, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
Tại phiên tòa có mặt chị N; Vắng mặt anh H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 10/3/2020, bản khai của nguyên đơn chị Trần Thị Bích N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Dương Quốc H cưới nhau vào năm 2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện Hàm Thuận Bắc theo Giấy chứng nhận kết hôn số 38 ngày 23/4/2018. Việc cưới nhau là do hai bên tự tìm hiểu. Sau khi cưới vợ chồng chị sống tại thôn 3, xã Hồng Sơn, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận. Vợ chồng sống hạnh phúc đến khoảng tháng 5 năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh H có tính cờ bạc nợ nần, không lo làm ăn, chị đã nhiều lần khuyên ngăn nhưng anh H vẫn không thay đổi mà chứng nào tật đó, trong khi con mới sinh nhưng anh H không lo đi làm kiếm tiền lo cho gia đình mà chỉ biết ăn chơi, vợ chồng không có tiếng nói chung nên thường xuyên cải vã. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nữa và nguyện vọng của chị là yêu cầu xin được ly hôn với anh Dương Quốc H. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Dương Quốc Khang - sinh ngày 08/5/2019. Hiện nay con đang ở với chị. Khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con tên Dương Quốc Khang và không yêu cầu anh Dương Quốc H cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản và nợ: Không yêu cầu Tòa giải quyết. Ngoài ra, do anh Dương Quốc H vắng mặt nên chị yêu cầu Tòa giải quyết theo quy định của pháp luật. Bị đơn anh Dương Quốc H đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án nhưng vắng mặt không có lý do nên Tòa án không thể tiến hành các thủ tục tố tụng như ghi lời khai, lập biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, nuôi con với bị đơn. Đây là tranh chấp về ly hôn, nuôi con. Bị đơn có địa chỉ tại khu phố P, thị trấn P, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. [2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Dương Quốc H đã được tống đạt các văn bản tố tụng và được Tòa án triệu tập đến phiên tòa hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn cố tình vắng mặt, chứng tỏ anh Dương Quốc H tự từ bỏ quyền và không thực hiện nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử xử vắng mặt đối với anh Dương Quốc H. [3] Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Bích N và anh Dương Quốc H cưới nhau vào năm 2018, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân thị trấn P, huyện Hàm Thuận Bắc theo Giấy chứng nhận kết hôn số 38 ngày 23/4/2018. Đây là hôn nhân hợp pháp, phù hợp với quy định tại các Điều 8, 9 Luật hôn nhân và gia đình. Xét yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị Bích N, Hội đồng xét xử thấy rằng: Trong cuộc sống, do bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng không có tiếng nói chung, hay cải vã nhau, cuộc sống không có hạnh phúc. Từ sau tháng 5 năm 2019 thì vợ chồng không sống chung với nhau nữa. Nguyên nhân là do anh H có tính cờ bạc nợ nần, không lo làm ăn, chị đã nhiều lần khuyên ngăn nhưng anh H vẫn không thay đổi mà chứng nào tật đó, trong khi con mới sinh nhưng anh H không lo đi làm kiếm tiền lo cho gia đình mà chỉ biết ăn chơi. Nay chị Trần Thị Bích N xác định tình cảm vợ chồng không còn nữa và nguyện vọng của chị là yêu cầu xin được ly hôn với anh Dương Quốc H.
Từ giai đoạn thụ lý vụ án cho đến khi Tòa án mở phiên tòa, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh H nhưng anh H cố tình lẫn tránh, vắng mặt không có lý do nên Tòa không tiến hành hòa giải vụ án theo quy định của pháp luật được. Việc đó thể hiện ý thức xem thường pháp luật, không thiết tha gì đến hạnh phúc và hôn nhân của mình. Do đó, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử nhận định quan hệ hôn nhân giữa chị Trần Thị Bích N và anh Dương Quốc H thực tế đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể tiếp tục cuộc sống chung được. Do vậy, yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Bích N đối với anh Dương Quốc H là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Chị Trần Thị Bích N và anh Dương Quốc H có 01 con chung tên Dương Quốc Khang - sinh ngày 08/5/2019. Hiện nay con đang ở cùng chị N. Tại đơn khởi kiện cũng như tại phiên tòa, chị N yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con tên Dương Quốc Khang, không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con.
Xét yêu cầu nuôi con của chị N, Hội đồng xét xử thấy rằng: Con tên Dương Quốc Khang ở với chị N từ khi sinh ra cho đến nay. Vì vậy, giao con chung cho chị N được quyền trực tiếp nuôi dưỡng là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Chị Trần Thị Bích N không yêu cầu anh Dương Quốc H cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về tài sản và nợ: Không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. [4] Về án phí: Chị Trần Thị Bích N phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Anh Dương Quốc H không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 70, Điều 72, khoản 4 Điều 91, Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Điều 146, khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: 1. Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Trần Thị Bích N về việc yêu cầu ly hôn với anh Dương Quốc H. Chị Trần Thị Bích N được ly hôn với anh Dương Quốc H. 2. Về con chung: Giao con chung tên Dương Quốc Khang - sinh ngày 08/5/2019 cho chị Trần Thị Bích N trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Dương Quốc H không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh Dương Quốc H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con và cấp dưỡng nuôi con khi cần thiết. 3. Về tài sản và nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. 4. Về án phí: Chị Trần Thị Bích N phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Chị Trần Thị Bích N đã nộp đủ 300.000đồng tạm ứng án phí theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0005892 ngày 11/3/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận nên không phải nộp nữa. Anh Dương Quốc H không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 21/8/2020). Đối với đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Thuận; - VKSND huyện Hàm Thuận Bắc; - Chi cục THADS H.Hàm Thuận Bắc; - UBND thị trấn P - HTB; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Kim Hoa |