- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "anh H xin ly hôn chị S"
- Tòa quyết gì? điểm a khoản 5 Điều 27 N ghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ng ày 30/12/2016 của Ủy ban th ư ờng vụ Quốc Hội quy định về án phí T
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H À TRUNG TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41 /2020/HNGĐ-ST Ngày 29/9/2020 V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯ ỚC CỘNG H
ÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H À TRUNG - TỈNH THANH HOÁ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phi ên tòa: Ông Hoàng Ngọc Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân : 1/ Ông Lê V Ký
2/ Ông Đoàn Thân
- Thư k ý phiên tòa: Ông Đỗ Ngọc Nhạn
- Thư k ý Tòa án nhân dân huyện H à Trung, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H
à Trung, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền - Kiểm sát vi ên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2020, tại Hội tr ư ờng To à án nhân dân huyện H à Trung, tỉnh Thanh Hoá xét xử s ơ th ẩm công khai vụ án thụ lý số
: 92/2020/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2020 về tranh chấp: Ly hôn tranh chấp về nuôi con khi ly hôn . Theo quyết đinh đ ưa v ụ án ra xét xử số
: 39/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 8 năm 2020, giữa các đ ương s ự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Hữu H - Sinh năm 1974
Địa chỉ : Thôn M, xã H, huyện H , tỉnh Thanh Hóa.
- Bị đơn: Chị L ê Thị S - Sinh năm 1981
Địa chỉ : Thôn M, xã H, huyện H , tỉnh Thanh Hóa.
Tại phiên toà vắng mặt anh H (có đơn xin xét x ử vắng mặt)
và chị S (vắng mặt không lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn kh ởi kiện ng ày 18/9/2019, bản tự khai và trong quá trình xét xử nguyên đơn anh Nguyễn Hữu H trình bày:
- Về hôn nhân: Anh và chị L ê Thị S kết hôn tr ên cơ s ở tự nguyện, có t
ìm hiểu, có tổ chức c ư ới v à đư ợc U ỷ ban nhân dân xã Hà Lai, huyện H à Trung, tỉnh Thanh Hóa cấp giấy chứng nhận kế
t hôn vào ngày 09/11/2004. Sau khi cư ới vợ chồng sống H phúc bình thư ờng đến năm 201 8 thì phát sinh mâu thuẫn, nguy ên nhân do bất đồng quan điểm, tính t ình không hợp, chị S tự do quan hệ đi ch ơi v ới ng ư ời khác giới, anh đã bắt gặp v à nhiều lần góp ý nh ưng không đư ợc. Ng ày 04/5/2019 (âm lịch) chị S bỏ nhà đi anh không biết v à vợ chồng sống ly thân t ừ đó đến nay, không quan tâm đến nhau. Nay anh xét thấy t ình cảm vợ chồng không c
òn, mục đích hôn nhân không đạt đư ợc , không còn khả năng đo àn tụ, nên anh xin đư ợc ly hôn vớ i chị L ê Thị S.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung, các cháu t ên là Nguyễn Thanh Ng, sinh ngày 26/8/2005 và Nguyễn L ê V, sinh ngày 30/9/2012. Hiện nay các cháu khỏe mạnh v à đang ở với anh. Ly hôn anh H có nguyện vọng nuôi cả hai cháu v à không yêu cầu chị S phải cấp d ư ỡng nuôi con c ùng anh. Hiện nay anh l àm thợ xây thu nh ập 300.000đồng/ng ày.
- Về t ài sản: Anh H không yêu cầu T òa án giải quyết.
* Tại bản tự khai ng
ày 24/6/2020 chị L ê Thị S trình bày:
- Về hôn nhân: Chị v à anh Nguyễn Hữu H kết hôn tr ên cơ s ở tự nguyện,
không bị ép buộc, có tìm hiểu, đăng ký kết hôn n gày 20/4/2004, vợ chồng chung sống h
òa thuận H phúc đư ợc 16 năm. Từ khi anh H đi làm thợ xây có nảy sinh t ình cảm với ngư ời khác từ năm 2016 đến nay, đến năm 2017
chị khuy ên ngăn không đư ợc n ên bị ức chế v à bị trầm cảm. Anh
H nghi ngờ chị có bồ bị
ch, vợ chồng cải nhau anh
H đánh chị rất nhiều lần. Nguyện vọng của chị v
ì con, để cho các con có bố có mẹ n ên chị không đồng ý ly hôn.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung, các cháu t ên là Nguyễn Thanh Ng, sinh ngày 2/8/2005 và Nguyễn L ê V, sinh ngày 30/9/2012. Nếu phải l y hôn chị có nguyện vọng nuôi cả hai cháu v à không yêu cầu anh H phải cấp d ư ỡng nuôi con c ùng chị . Hiện nay chị l àm công việc buôn bán thu nhập 10.000.000đ đến 15.000.000đồng /tháng.
- Về t ài sản: Chị S không yêu cầu T òa án giải quyết.
* Toà án nhân dân huyện H à Trung đã nhiều lần triệu tập hợp lệ
chị L ê Thị S đến hòa giải tuy nhiên chị S không đến làm việc. Nên không tiến h ành hòa giải đ ư ợc về việc giải quyết vụ án.
* Toà án nhân dân huyện H à Trung đã tiến h ành xác minh tại x ã Hà Lai, theo thông tin cung cấp th ì đư ợc biết: Chị S và anh H là vợ chồng , có đăng ký kết hôn, từ cuối năm 2018 đầu năm 2019 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguy
ên nhân do chị S thiếu chung thủy với anh
H có quan hệ không l ành mạnh với ng ư ời khác giới dẫn đến xô xát đánh nhau nhiều lần , địa ph ương đ ã tổ chức h òa giải nh ưng không có k ết quả. Mâu thuẫn trầm trọng nhất l
à từ tháng 5/2020 cho đến nay, vợ chồng sống chung cùng nhà nhưng ăn riêng. Quan đi ểm của địa ph ương là mâu thu ẫn vợ chồng đ
ã trầm trọng, sống với nhau cũng không có
H phúc, đề nghị cho anh chị đ ư ợc ly hôn. Vợ chồng anh chị có 02 con chung, các cháu tên là Nguyễn Thanh Ng, sinh ngày 26/8/2005 và Nguyễn L ê V, sinh ngày 30/9/2012 các cháu đang ở với anh H, điều kiện chăm s óc của anh H tốt h ơn ch ị S, đề nghị xem xét nguyện vọng của các cháu v
à cần giao cả hai cháu cho anh H nuôi là phù hợp. Gần đây chị
S đánh con gái đã bị Công an lập bi ên bản .
Tại phi ên tòa, Đại diện Viện kiểm sát có quan
điểm: Trong quá tr ình giả i quyết vụ án v à tại phi ên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử đ
ã tiến h ành đúng theo quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đ
ơn c ủa anh H, xử cho anh H đư ợc ly hôn chị S; về con chung giao cháu Nguyễn Thanh Ng và Nguyễn L ê V cho anh H nuôi dư ỡng. Chị S không phải cấp d ư ỡng nuôi con c ùng anh H. Anh H phải chịu tiền án phí DSST.
Tại phi ên tòa hôm nay chị S vắng mặt; anh H có đơn xin xét x ử vắng mặt v
à vẫn giữ nguy ên yêu cầu khởi kiện.
NHẬN ĐỊNH CỦA T
ÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các t ài liệu có trong hồ s ơ v ụ án đ ư ợc thẩm tra tại phi ên tòa và căn cứ v ào kết quả tranh luận tại phi
ên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng
: Nguyên đơn anh Nguyễn Hữu H có đơn xin xét x ử vắng mặt. Bị đ ơn là chị L ê Thị S không có mặt tại phi ên tòa, Tòa án đã tiến h ành tống đạt hợp lệ các
V bản tố tụng theo đúng thủ tục v
à phiên tòa cũng đ ư ợc ho ãn lần thứ nhất vào ngày 09/9/2020. Do vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 BLTTDS xét xử vắng mặt
anh H và chị S.
[2] Về hôn nhân : Chị Lê Thị S và anh Nguyễn Hữu H kết hôn với nhau năm 2004 trên cơ s ở tự nguyện,
có tổ chức c ư ới, có đăng ký kết hôn và không vi phạm điều cấm của Luật hôn nhân v
à gia đình nên là hôn nhân hợp pháp . Theo anh H vợ chồng sau khi kết hôn chung sống h òa thuận, H phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguy ên nhân do bất đồng quan điểm, chị
S quan hệ với ng ư ời khác giới, chị S bỏ nh à đi và vợ chồng sống ly thân từ
lâu, không quan tâm đến nhau , nên anh xin ly hôn. Theo chị S từ năm 2016 anh H có quan hệ t ình cảm với ng ư ời khác, anh H nghi ngờ chị có bồ bịch, vợ chồng cải nhau anh
H đánh chị rất nhiều lần. Nguyện vọng của chị là vì con, để cho các con có bố có mẹ n ên chị không đồng ý ly hôn.
Đối với chị S, chị đã đư ợc To à án triệu tập hợp lệ,
nhưng chị không đến T òa án để hòa giải v à làm việc. Đây thể hiện
chị không còn tình cảm với anh H và bỏ mặc việc giải quyết vụ án.
Ngoài ra, Tòa án cũng đ ã làm việc chính quyền xã Hà Lai đư ợc biết : Từ cuối năm 2018 đầu năm 2019 vợ chồng anh
H chị S phát sinh mâu thuẫn, nguy ên nhân do chị S có quan hệ không l ành mạnh với ng ư ời khác giới dẫn đến xô xát đánh nhau, địa phương đ ã tổ chức h òa giải nh ưng không có k ết quả. Mâu thuẫn trầm trọng nhất l
à từ tháng 5/2020 cho đến nay , có lần đánh nhau bị Công an lậ p biên bản , vợ chồng sống chung cùng nhà nhưng ăn riêng. Quan đi ểm của địa ph ương là mâu thu ẫn vợ chồng đã trầm trọng, sống với nhau cũng không có
H phúc.
Xét thấy, anh H thực sự không c òn tình cảm với chị S, chị S mong muốn đo àn tụ nh ưng trong suốt quá tr ình giải quyết vụ
án chị S cũng không đến tham gia buổi hòa giải v à làm việc, bỏ mặc việc giải quyết vụ án chứng tỏ
chị không mong muốn vợ chồng đo àn tụ . Đến nay anh H vẫn tha thiết xin ly hôn, với lý do vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, không thể h àn gắn đ ư ợc v à vợ chồng đ ã sống ly thân v à không còn quan tâm đến nhau.
Theo quy định của pháp luật H ôn nhân và gia đình thì vợ chồng có nghĩa vụ
thương yêu, chăm sóc , giúp đỡ nhau, c ùng nhau xây dựng cuộ c sống, H phúc gia đình, nhưng ở đây anh H đã thực sự khô ng còn tình cảm với chị S, chị S không quan tâm bỏ mặc việc giải quyết vụ án v
à không thiết tha níu kéo t ình cảm vợ chồng
và vợ chồng th ư ờng hay cải nhau, xô xát và đánh nhau. Do đó nếu buộ c anh chị quay về đoàn tụ th ì cuộc sống vợ chồng cũng khó cải thiện đ
ư ợc. N ên Hội đồng xét xử chấp nhận y êu cầu của anh H và căn cứ Điều 56 Luật HN&GĐ xử cho
anh H đư ợc ly hôn chị S là phù hợp.
[3] Về con : Anh H và chị S đều khai thống nhất,
vợ chồng có 02 con chung l à Nguyễn Thanh Ng, sinh ngày 26/8/2005 và Nguyễn L ê V, sinh ngày 30/9/2012. Ly hôn, anh H xin đư ợc nuôi d ư ỡng cả hai cháu v à không yêu cầu chị S phải cấp d ư ỡng nuôi con cùng anh. Ý kiến của chị
S, nếu ly hôn chị có nguy ện vọng nuôi cả hai cháu và không yêu cầu anh H phải cấp d ư ỡng nuôi con c ùng chị.
Xét thấy nguyện vọng đ ư ợc nuôi con của anh, chị l à hoàn toàn chính đáng. Tuy nhiên việc giao con cho ai nuôi cần phải xem xét mọi mặt về quyền lợi của con ch
ưa thành niên. Anh H và chị S đều có khả năng chăm sóc các cháu tốt.
Hội đồng xét xử thấy rằng:
Theo chính quyền địa ph ương c ần giao cả hai cháu cho anh H nuôi dư ỡng. Tại bi ên bản hiện tr ư ờng vụ đánh nhau ngày 07/7/2020 của Công an xã Hà Lai thể hiện chị
S đã đánh con gái là cháu Nguyễn Thanh Ng vì lý do tự ý l ên Tòa án làm việc theo y êu cầu của T òa án, đây thể hiện chị
S đã có hành vi xâm phạm đến sức khỏe của con
. Ngoài ra cháu Ng và cháu V đều có ngu yện vọng xin đư ợc ở với bố.
Do vậy cần áp dụng Điều
81 và 82 Luật HN&GĐ giao cháu Ng và cháu V cho anh H trực tiếp nuôi d ư ỡng l à phù hợp.
Về cấp d ư ỡng nuôi con: Anh H không yêu cầu chị S phải cấp d ư ỡng nuôi con cùng anh. Hội đồng xét xử thấy rằng đây l
à sự tự nguyện của anh, mức thu nhập của anh cũng đủ cho việc chăm sóc nuôi d
ư ỡng con. N ên không xem xét.
[4] Về t ài sản : Anh H không yêu cầu giải quyết, n ên Hội đồng xét xử không
xem xét.
[5] Về án phí: Anh Nguyễn Hữu H là nguyên đơn trong v ụ án n ên buộc anh H phải chịu án phí dân sự hôn
nhân gia đình sơ th ẩm l à 300.000đ.
Vì các lẽ tr ên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ v ào khoản 1 Điều 5 6, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân v à gia đình; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238;
khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự;
điểm a khoản 5 Điều 27 N ghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ng ày 30/12/2016 của Ủy ban th ư ờng vụ Quốc Hội quy định về án phí T
òa án.
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Nguyễn Hữu H và chị L ê Thị S.
2. Về nuôi con chung:
2.1. Công nhận v ợ chồng có 02 con chung gồm :
+ Nguyễn Tha nh Ng - Sinh ngày 26 tháng 8 năm 2005;
+ Nguyễn L ê V - Sinh ngày 30 tháng 9 năm 2012.
2.2. Giao con chung là Nguyễn Thanh Ng và Nguyễn L ê V cho anh Nguyễn Hữu H trực tiếp nuôi d ư ỡng.
2.3. Chị L ê Thị S không phải cấp d ư ỡng nuôi con c ùng anh H.
2.4. Chị S có quyền thăm nom con chung, không ai đ ư ợc cản trở.
3. Về chia t ài sản: Anh H không yêu cầu T òa án giải quyết.
đ
4. Về án phí: Anh Nguyễn Hữu H phải chịu 300.000 tiền án phí dân sự s ơ
đ thẩm , nhưng đư ợc tr ừ v ào số tiền tạm ứng án phí an
h đã nộp 300.000 theo biên lai thu tiền số 0009116 ngày 26/5/2020 của Chi cục thi h ành án dân sự huyện H à Trung. Anh H đã nộp đủ.
Trư ờng hợp bản án đ
ư ợc thi h ành tại Điều 2 Luật Thi h ành án dân sự th ì ngư ời đư ợc thi h ành án, ngư ời phải thi h ành án dân sự có quyền thỏa thuận thi h
ành án, quyền y êu cầu thi h ành án, tự nguyện thi h ành án hoặc bị c ư ỡng chế thi h ành án theo quy định tại Điều 6; 7 v à 9 Luật Thi h ành án dân sự. Thời hiệu Thi h
ành án đư ợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi h
ành án dân sự.
5. Về quyề n kháng cáo: Anh H, chị S có quyề n kháng cáo bả n án trong hạ n 15 ngày kể từ ngày nhậ n đư ợ c bả n án hoặ c niêm yế t.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ S
Ơ TH ẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND huyện H à Trung; - Thi hành án dân sự; - UBND xã Hà Lai (Ghi sổ hộ tịch) - Các đương s ự; - Lưu h ồ s ơ v ụ án. | Thẩm phán - Chủ toạ phi ên toà Hoàng Ngọc Tuấn |