- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/Tuyên bố bị cáo Lê Anh T phạm tội mua bán trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM THÀNH PHỐ HÀ NỘI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/ 2019/HSST Ngày 17 / 5/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Bùi Quang Trung
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Quang Hiển, cán bộ nghỉ hưu
2. Bà Nguyễn Thị Hà, cán bộ nghỉ hưu
- Thư ký phiên tòa:Bà Nguyễn Thị Hoàng Yến- Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Gia Lâm
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Kim Hoa - Kiểm sát viên
Ngày 17 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 42/2019/HSST ngày 19/4/2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2019/ QĐXXST- HS ngày 04 tháng 5 năm 2019 đốivới bị cáo:
Lê Anh T , sinh năm 1978; tại Thành phố Hà Nội; nơi cư trú: Thôn 8, xã N, huyện G, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp lao động tự do; trình độ văn hoá 10/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Lê Văn Ph (đã chết) và bà Đàm Thị B sinh năm 1930; vợ Nguyễn Thị L sinh năm 1982 (đã ly hôn), có 02 con, con lớn sinh năm 2001 bé sinh năm 2003; tiền sự không có; tiền án không có; bị cáo tại ngoại hiện đang được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa vì lý do sức khỏe.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Bản thân Lê Anh T là đối tượng nghiện ma túy đã lâu, để có tiền sử dụng cá nhân nên vào khoảng 9h ngày 25/22/2018 T thuê xe ôm lên khu vực Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh mua 500.000đ ma túy của một người không quen biết, sau khi mua được ma túy về nhà T chia thành 15 gói nhỏ bọc bằng giấy bạc với mục đích để bán kiếm lời. Vào khoảng 15h ngày 25/12/2018 có các đối tượng Nguyễn Văn Đ và Vũ Văn T đến nhà T hỏi mua ma túy để sử dụng, cụ thể Đ mua 01 gói với giá 100.000đ, T mua 02 gói với giá 200.000đ, T đã giao đủ 03 gói và nhận 300.000đ, trên đường từ nhà T về thì Đ và T bị Công an huyện G phát hiện kiểm tra, quá trình kiểm tra Đ và T đã vứt số ma túy nên Công an không thu giữ được, Công an huyện G đã yêu cầu chỉ dẫn đến nhà T, quá trình khám xét đã thu giữ của T 12 gói ma túy và số tiền 300.000đ, ngoài ra không thu giữ vật nào khác.
Tại bản kết luận giám định số 27/KLGĐ-PC09 ngày 03/01/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hà Nội kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 12 gói là ma túy loại heroine có khối lượng 0,420 gam.
Bị cáo Lê Anh T đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình, lời khai đó phù hợp với các tài liệu chứng minh khác.
Đối với các đối tượng Nguyễn Văn Đ, Vũ Văn T sau khi bị Công an phát hiện đã vứt số ma túy vừa mua nên không thu giữ được. Do vậy không có căn cứ để xử lý hình sự về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, nên Công an huyện G đã xử lý hành chính bằng hình thức phạt tiền là phù hợp.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Lê Anh T đã đủ yếu tố cấu thành tội mua bán trái phép chất ma túy. Bị cáo biết chất ma túy là mặt hàng nhà nước cấm mua bán, nhưng bị cáo vẫn thực hiện, thể hiện rõ ý chí coi thường pháp luật.
Tại bản Cáo trạng số 45/CT/VKS-KSĐT ngày 17/4/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện G truy tố bị cáo Lê Anh T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 38 và Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; tuyên bố bị cáo Lê Anh T phạm tội mua bán trái phép chất ma túy; xử phạt bị cáo Lê anh T từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm , thời hạn tù kể từ ngày bắt thi hành án; về hình phạt bổ sung không áp dụng đối với bị cáo; ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị giải quyết về vật chứng của vụ án.
Bị cáo Lê Văn T vắng mặt tại phiên tòa nên không có ý kiến tranh luận.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay mặc dù bị cáo vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt ngoài ra không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Sau khi mua được gói ma túy với giá 500.000đ, Lê Anh T đã về nhà chia ra thành 15 gói nhỏ và đã bán cho Đ và T 03 gói với giá 300.000đ thì bị bị Công an huyện G, Thành phố Hà Nội kiểm tra phát hiện bắt giữ T cùng tang vật. Tại bản kết luận giám định số 27/KLGĐ-PC09 ngày 03/01/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hà Nội kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 12 gói là ma túy loại heroine có khối lượng 0,420 gam, bị cáo bán cho hai người, như vậy hành vi đó của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội mua bán trái phép chất ma túy tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện G truy tố bị cáo theo điểm c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm sự độc quyền quản lý nhà nước về chất ma túy, hiện nay ma túy là hiểm họa đối với con người, tác động xấu đến kinh tế, xã hội, an ninh trật tự, đạo đức, lối sống, văn hóa của con người, bị cáo đã nhận thức được điều này nhưng vẫn ngang nhiên mua bán ma túy với mục đích để kiếm lời là thể hiện sự coi thường pháp luật, cũng như có thể làm phát sinh loại tội phạm khác. Vì vậy cần phải được xử lý nghiêm bằng một bản án hình sự của Nhà nước mới có tác dụng giáo dục bị cáo nói riêng cũng như trong việc đấu tranh đối với loại tội phạm này hiện nay nói chung.
Xét tính chất, mức độ phạm tội cũng như nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo nhận thấy: Trong vụ án này một mình bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên bị cáo phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về hành vi do mình gây ra, về nhân thân bị cáo là người có nhân thân xấu vì là đối tượng nghiện ma túy đã lâu và đã được áp dụng biện pháp cai nghiện nhiều lần, tuổi đời còn trẻ, nhưng không chịu lao động mà muốn kiếm đồng tiền bằng con đường phạm pháp. Do vậy cần xem xét đối với bị cáo. Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết như: Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
-Trên cơ sở xem xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy cần bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù tại Trại giam một thời gian để Nhà nước giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.
-Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: 01 gói niêm phong là Heroine trọng lượng còn lại sau khi giám định là 0,399 gam. Xét thấy đây là chất ma túy Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu cho tiêu hủy.
- Đối với số tiền 300.000đ. Xét thấy đây là tiền thu lời bất chính nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Anh T có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1/Tuyên bố bị cáo Lê Anh T phạm tội mua bán trái phép chất ma túy.
2/ Áp dụng: Điểm c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Lê Anh T 07 năm 06 tháng tù, thời hạn tù kể từ ngày bắt thi hành án
-Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo.
3/Áp dụng: Điều 47 Bộ luật hình sự; các Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
-Về xử lý vật chứng: Tịch thu cho tiêu hủy 01 gói ma túy là Heroine đã được niêm phong trọng lượng còn lại là 0.399 gam, tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 300.000đ (hiện vật chứng trên đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Gia Lâm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/4/2019, số tiền trên hiện đang ở tài khoản tạm gửi của Công an huyện G tại Kho Bạc Nhà nước theo giấy nộp tiền ngày 20/3/2019)
-Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Lê Anh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ.
Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt bị cáo. Báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án sơ thẩm được niêm yết.
| Nơi nhận: - Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác -VKS nhân dân huyện G -Công an huyện G -Chi cục THADS huyện G -TAND thành phố Hà Nội. -Sở tư pháp thành phố Hà Nội. -Lưu HS | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Quang Trung |