- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Đ - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội: "Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TAND HUYỆN ĐỊNH HÓA TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/ 2019 /HS - ST Ngày 05/11/2019. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH HOÁ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thiện Hoàng.
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Triệu Đình Giáp;
2. Ông Ma Đình Nghị
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Diễm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Đại Nghĩa - Kiểm sát viên.
Ngày 05/11/2019, tại trụ sở Ủy ban nhân dân thị trấn Chợ Chu, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Tòa án nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 44/2019/HSST ngày 14 tháng 10 năm 2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2019/QĐXXST-HS ngày 22/10/2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn Đ, (Tên gọi khác: Không), sinh ngày: 28/7/1968 tại huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Nơi đăng ký họ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay : Xóm TQ, xã TL, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 6/10; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn H (đã chết) và Trần Thị L; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có
- Nhân thân:
+ Bản án số: 10/2002/ HSST ngày 21/5/2002 của Tòa án nhân dân huyện Đ xử phạt Nguyễn Văn Đ 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản nH cho hưởng án treo thời gian thử thách 18 tháng.
+ Bản án số: 07/2005/HSST ngày 20/01/ 2005 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xử phạt Nguyễn Văn Đ 07 năm tù về tội “mua bán trái phép chất ma túy” và 07 năm tù về tội “chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội là 14 năm tù.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/6/2019 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên.
(có mặt tại phiên tòa).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nông Ngọc S, sinh năm:1974. Nơi cư trú: Xóm ĐL, xã ĐT, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. (vắng mặt).
* Người làm chứng:
- Anh Dương Quốc H, sinh năm 1981. Nơi cư trú: Xóm TQ, xã TH, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.(vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 14 giờ 30 phút, ngày 18/6/2019, Tổ công tác của Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Thái Nguyên làm nhiệm vụ tuần tra tại khu vực xã TL nhận được tin báo của quần chúng về việc tại nhà của Nguyễn Văn Đ, ở xóm TQ, xã TL, có biểu hiện hoạt động mua bán trái phép chất ma túy. Tiến hành kiểm tra, phát hiện bắt quả tang, thu giữ trong túi quần bên phải Đ đang mặc 03 (ba) gói chất bột màu trắng nghi là hêrôin được gói trong túi ni lon màu trắng; thu giữ trong túi quần sau bên phải Đ đang mặc 200.000đ (hai trăm nghìn đồng). Tổ công tác đã tiến hành niêm phong số chất bột màu trắng nghi là hêrôin và lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang. Khám xét khẩn cấp chỗ ở thu giữ tại phòng ngủ của Đ: 01 chứng minh thư nhân dân số 090561545 mang tên Nguyễn Văn Đ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG,số imei: 35718700518632 bên trong có sim số 0396876568; 01 điện thoại di động nhãn hiệu GIGI, số imei: 356280100080223, bên trong có sim số 0399717648; 01 cân điện tử nhãn hiệu POCKETSCALE màu đen
Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thái Nguyên đã mở niêm phong cân 03 (ba) gói chất bột màu trắng nghi là hêrôin của Đ có khối lượng là 10,236 gam (mười phẩy hai ba sáu gam). Tiến hành trộn đều trích ra 1,072 gam niêm phong ký hiệu G làm mẫu trưng cầu giám định, số chất bột còn lại là 9,164 gam được niêm phong ký hiệu là L.
Tại Kết luận giám định số: 952/KL - KTHS ngày 26/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong mẫu G gửi giám định là ma túy, loại Heroin có khối lượng giám định là 1,072gam. Mẫu vật còn lại sau giám định là 1,048 gam (một phẩy không bốn mươi tám gam), tổng khối lượng Heroin thu giữ là: 10,236 gam.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa Nguyễn Văn Đ khai nhận: 03 (ba) gói chất bột màu trắng Công an thu giữ trong người Đ là hêrôin, mục đích mua về để bán lại cho các đối tượng nghiện ma túy khác để kiếm lời. Nguồn gốc số hê rô in là vào khoảng 11 giờ, ngày 18/6/2019, Đ dùng điện thoại GIGI có số thuê bao 0399717648 gọi cho một người đàn ông tên Lẫm hỏi mua Hêrôin khi được Lẫm đồng ý hẹn địa điểm trao đổi thì Đ từ nhà đi xe buýt xuống đến khu vực Đền Đuổm, thuộc xã Động Đạt, huyện Phú Lương để mua ma túy. Khi gặp nhau Đ đưa cho Lẫm 9.000.000đ (chín triệu đồng), còn Lẫm đưa cho Đ 03 (ba) gói Hêrôin. Mua xong Đ cất 03 (ba) gói Hêrôin vào trong người và đón xe buýt về nhà. Về đến nhà Đ cân lại số Hêrôin, ý định chia thành các gói nhỏ để bán cho các đối tượng nghiện nH chưa kịp chia, bán thì bị Công an tỉnh Thái Nguyên phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng như đã nêu trên.
Vật chứng của vụ án gồm: 01 phong bì niêm phong ký hiệu L bên trong có 9,164 gam hêrôin; 01 phong bì niêm phong ký hiệu G bên trong có 1,048 gam hêrôin mẫu vật còn lại sau giám định; 01 cân điện từ nhãn hiệu POCKET SCALE màu đen; 01 chứng minh thư nhân dân số 090561545 mang tên Nguyễn Văn Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, số imei: 35718700518632 bên trong có sim số 0396876568; 01 điện thoại di động nhãn hiệu GIGI, số imei: 356280100080223, bên trong có sim số 0399717648 đều đã cũ và 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) hiện lưu tại kho và tài khoản tiền gửi của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Với hành vi nêu trên, tại bản cáo trạng số: 46 ngày 14/10/2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ ra xét xử về tội: "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Sau khi phân tích tính chất, nội dung, hành vi phạm tội, hậu quả và tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 07 đến 08 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam.
Về hình phạt bổ sung : Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì bị cáo không có tài sản gì có giá trị, không có tính khả thi.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự ; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử:
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ký hiệu L bên trong có 9,164 gam hêrôin; 01 phong bì niêm phong ký hiệu G bên trong có 1,048 gam hêrôin là mẫu vật còn lại sau giám định;
Tịch thu bán hóa giá sung quỹ Nhà nước 01 cân điện từ nhãn hiệu POCKETSCALE màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu GIGI, số imei: 356280100080223, cũ đã qua sử dụng sung quỹ Nhà nước.
Tạm giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, số imei: 35718700518632 và 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) của bị cáo Đ để bảo đảm cho việc thi hành án.
Hoàn trả 01 chứng minh thư nhân dân số 090561545 mang tên Nguyễn Văn Đ cho Đ quản lý sử dụng;
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Phần tranh luận, đối đáp: Bị cáo không có tranh luận, bào chữa gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo Đ thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp về tang vật, về số hê rô in, cân tiểu ly, dụng cụ bị thu giữ, phù hợp về mục đính bị cáo mua hê rô in về để bán kiếm lời. Phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác Cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ kết luận:
Với mục đích mua ma túy về để bán kiếm lời, vì vậy vào khoảng 11 giờ, ngày 18/6/2019, Đ dùng điện thoại GIGI có số thuê bao 0399717648 liên hệ với một người đàn ông tên Lẫm hỏi mua hê rô in. Sau khi hỏi mua và được Lẫm đồng ý Đ từ nhà đi xe buýt xuống khu vực Đền Đuổm, thuộc xã Động Đạt, huyện Phú Lương, gặp và mua của Lẫm 03 (ba) gói Hêrôin có khối lượng 10,236 gam với giá 9.000.000đ (chín triệu đồng). Mua xong Đ cất dấu 03 (ba) gói Hêrôin vào trong người và đón xe buýt về nhà. Về đến nhà Đ dùng cân điện từ nhãn hiệu POCKET SCALE cân lại số Hêrôin, để chia thành các gói nhỏ để bán cho các đối tượng nghiện kiếm lời nH chưa kịp chia thì khoảng 14 giờ 30 phút, ngày 18/6/2019, bị Tổ công tác của Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Thái Nguyên phát hiện bắt giữ cùng vật chứng. Hành vi nêu trên của bị cáo Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “ mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự .
Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
...
i) Heroine… có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 50.000.000đ...”
Do đó bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Đ về tội danh và điều luật viện dẫn ở trên và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Cơ quan tiến hành tố tụng; người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng hành vi, trình tự tố tụng hình sự. Các tài liệu, chứng cứ được thu thập đúng quy định của pháp luật. Không có khiếu nại, kiến nghị gì các văn bản tố tụng. Đảm bảo sự khách quan, nghiêm minh trong quá trình giải quyết vụ án.
Xét tính chất, hậu quả hành vi của bị cáo Đ thấy rằng:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng chất ma tuý. Hành vi của bị cáo đã tiếp tay cho những người nghiện có ma túy để sử dụng, gây mất trật tự trị an ở địa phương và là một trong những nguyên nhân làm cho một số loại tội phạm khác gia tăng. Hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, nH vì hám lời nên bị cáo vẫn cố tình thực hiện với lỗi cố ý, cần được xử lý nghiêm minh.
Xét nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy:
Bị cáo có nhân thân xấu đã hai lần bị kết án, lần 1 vào ngày 21/5/2002 bị Tòa án nhân dân huyện Đ xử phạt 06 tháng tù nH cho hưởng án treo về tội trộm cắp tài sản. Ngày 20/01/2005 bị Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xử phạt 07 năm tù về tội “mua bán trái phép chất ma túy” và 07 năm tù về tội “chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”, tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội là 14 năm tù. Bị cáo đã chấp hành xong hai bản án trên vừa được xóa án tích vào năm 2018 nH bị cáo không lấy làm bài học cho mình để sửa chữa lỗi lầm, trở thành người tốt cho gia đình, xã hội mà bị cáo tiếp tục phạm tội mua bán trái phép chất ma túy. Vì vậy, cần có mức án thật nghiêm khác đối với bị cáo, để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, vì vậy bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là người phạm tội thành khẩn khai báo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có bố được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng nhì, vì vậy bị cáo được hưởng một tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, sau khi đánh giá toàn diện về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly ra khỏi đời sống chung trong xã hội đối với bị cáo một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Cần tăng cao hơn mức hình phạt tù mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo để tăng tính, mức độ răn đe giáo dục với bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo nhằm kiếm lời, thu lợi bất chính. Vì vậy cần áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo với mức 10.000.000đ là phù hợp.
Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật hình sự ; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
01 phong bì niêm phong ký hiệu L bên trong có 9,164 gam hêrôin; 01 phong bì niêm phong ký hiệu G bên trong có 1,048 gam hêrôin mẫu vật còn lại sau giám định, cần tịch thu tiêu hủy;
01 cân điện từ nhãn hiệu POCKET SCALE, màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu GIGI, số imei: 356280100080223, đều cũ, đã qua sử dụng là công cụ, thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo, vì vậy cần tịch thu bán hóa giá sung quỹ Nhà nước;
01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, số imei: 35718700518632 và 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) của bị cáo Đ cần tạm giữ để bảo đảm cho việc thi hành án;
01 chứng minh thư nhân dân số 090561545 mang tên Nguyễn Văn Đ là giấy tờ về nhân thân của bị cáo, cần hoàn trả cho bị cáo sử dụng là phù hợp, đúng quy định của pháp luật;
Trong vụ án này, Đ khai mua hêrôin của người đàn ông tên Lẫm ở khu vực Đền Đuổm, thuộc xã Động Đạt, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên nH không xác định được địa chỉ nên không có căn cứ để xác minh, xử lý.
Đối với việc Đ khai được Nông Ngọc S, cho số điện thoại người tên Lẫm để mua hêrôin nH anh S không thừa nhận, đã tiến hành đối chất giữa anh S và Đ nH không đủ tài liệu chứng minh nên không có căn cứ xử lý đối với S.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ quy định tại Điều 259, khoản 2 Điều 260, khoản 1 Điều 268, khoản 1 Điều 269, khoản 1 Điều 298, Điều 299, 326 329 của Bộ luật tố tụng hình sự;
1- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội: "Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 09 (chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 18/6/2019.
Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để bảo đảm cho việc thi hành án.
2- Về hình phạt bổ sung: Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000đ (mười triệu đồng) sung quỹ Nhà nước.
3- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sư:
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ký hiệu L bên trong có 9,164 gam hêrôin; 01 phong bì niêm phong ký hiệu G bên trong có 1,048 gam hêrôin mẫu vật còn lại sau giám định;
Tịch thu bán hóa giá sung quỹ Nhà nước 01 cân điện từ nhãn hiệu POCKETSCALE màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu GIGI, số imei: 356280100080223 của Nguyễn Văn Đ.
Tạm giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, số imei: 35718700518632 và 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) của bị cáo Nguyễn Văn Đ để bảo đảm cho việc thi hành án.
Hoàn trả 01 chứng minh thư nhân dân số 090561545 mang tên Nguyễn Văn Đ cho Nguyễn Văn Đ quản lý, sử dụng theo quy định.
(Tình trạng vật chứng như tại biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 14/10/2019 giữa Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ).
4- Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 135,136, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự ; Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên; - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND huyện Định Hoá; - Công an huyện Định Hoá; - Cơ quan Thi hành án hình sự; - Chi cục THADS huyện Định Hoá; - Bị cáo; người có QLNVLQ. - Lưu: Hồ sơ vụ án. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thiện Hoàng |