- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Văn N - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2019/HS-ST Ngày: 30/01/2019 |
NHÂN DANH [
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ - TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thu Phương.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Mai Thị Tiếp;
Ông Lê Cát Tưởng.
- Thư ký phiên toà: Bà Mai Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện VKSND thành phố Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Lê Hữu Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 36/2019/TLST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2019/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo:
Đỗ Văn N, sinh năm 1991; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Số nhà 03/261 Lê Thánh T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn D và bà Lê Thị T; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 15/7/2010, Công an TP Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý gây thương tích”; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/9/2018 đến ngày 30/9/2018 chuyển tạm giam. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 00h 30’ngày 24/9/2018, tại khu vực ngõ 271 Lê Thánh T, phường Đ, TP T, tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố T phát hiện, nghi vấn Đỗ Văn N đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác đến yêu cầu kiểm tra, N đã ném 01 chiếc hộp sắt xuống dưới đất sát bụi chuối bên hông số nhà 06A/271. Tổ công tác đã thu giữ chiếc hộp sắt, kiểm tra bên trong phát hiện có 01 gói nilon màu trắng kích thước (01 x 01) cm chứa các hạt tinh thể màu trắng. N khai gói trong hộp sắt là ma túy đá, mục đích N cất dấu để sử dụng. Tổ công tác đã đưa Đỗ Văn N về trụ sở Công an phường Đ, TP T lập biên bản phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định của pháp luật (BL 01, 02).
Tại bản kết luận giám định số 2043/MT-PC09 ngày 27/9/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Các hạt tinh thể màu trắng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,380 gam, loại Methamphetamine ( BL 27).
Tại bản cáo trạng số 28/CT-VKS ngày 02/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố T truy tố bị cáo Đỗ Văn N về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như bản cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù.
Về vật chứng: đề nghị áp dụng khoản 1, điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy số ma túy thu của bị cáo còn lại sau giám định.
Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung truy tố của cáo trạng và không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an TP T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân TP T, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
. Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa bị cáo khai, tối ngày 22/9/2018, N đến nhà Lê Minh D (D Sẹo), sinh năm 1985, ở 343 Lê Thánh T, phường Đ, TP T. Tại đây D đưa 01 gói ma túy cho N và nhờ N đi bán giúp. N cầm gói ma túy D đưa đi về nhà và không nói gì với D, nhưng do bản thân là đối tượng nghiện ma túy nên N không mang ma túy đi bán mà cất gói ma túy D đưa vào hộp sắt (dạng hộp đựng kẹo cao su), mục đích để sử dụng. Đến 00h 30’ ngày 24/9/2018, N mang chiếc hộp sắt bên trong có chứa gói ma túy đá đi đến trước số nhà 06A/261 Lê Thánh T, phường Đ, TP T để tìm nơi sử dụng, khi chưa kịp sử dụng thì bị tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố T phát hiện bắt quả tang thu giữ gói ma túy, qua giám định có tổng khối lượng 0,380 gam, loại Methamphetamine.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi nêu trên của bị cáo có đủ dấu hiệu cấu thành tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội danh và khung hình phạt được qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, bị cáo có đủ nhận thức để biết rằng các loại ma túy nói chung và Methamphetamine nói riêng là chất gây nghiện được nhà nước thống nhất quản lý, nghiêm cấm hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, mặt khác còn gây mất trật tự trị an tại địa phương và là một trong những nguyên nhân dẫn đến tội phạm và các tệ nạn xã hội khác nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội.
. Bị cáo có nhân thân xấu, ngày 15/7/2010, bị cáo bị Công an TP T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý gây thương tích”.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Nên áp dụng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như vậy mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.
. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người lao động tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
. Đối với Lê Minh D, theo N khai là người đã đưa gói ma túy nhờ N bán hộ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã tiến hành khám xét khẩn cấp người, nơi ở, đồ vật, phương tiện nhưng không phát hiện, thu giữ được gì. Cơ quan điều tra đã làm việc với D, tiến hành đối chất giữa D và N nhưng D không thừa nhận vào tối ngày 22/9/2018 đã đưa gói ma túy cho N mang đi bán, việc N khai D là người đưa gói ma túy nhưng không có ai thấy, ai biết nên không đủ cơ sở để xử lý đối với Lê Minh D.
Đối với vật chứng: Toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì thư, hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hoá là vật cấm lưu hành, nên cần áp dụng khoản 1, điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma túy này.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14.
Vì các lẽ trên;
[ [ơQUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a,c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14.
Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Đỗ Văn N 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 24/9/2018 .
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì được đóng dấu của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa. Toàn bộ vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa, theo biên bản giao nhận vật chứng số 67/THA ngày 04/01/2019 giữa Công an thành phố Thanh Hóa với Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa.
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7,9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND TP Thanh Hóa; - Công an TP Thanh Hóa; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM HỘI THẨM NHÂN DÂN Mai Thị Tiếp Lê Cát Tưởng TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA TỈNH THANH HÓA Vào hồi giờ phút ngày 30 tháng 01 năm 2019; Tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa. Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thu Phương. Các Hội thẩm nhân dân: Bà Mai Thị Tiếp. 03 tháng 01 năm 2019 đối với: chỗ ở: Số nhà 03/261 Lê Thánh Tông, phường Đông Sơn, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự; tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU : 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 1, điểm a,c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14. Kết quả biểu quyết 3/3 ma túy”. Kết quả biểu quyết 3/3 thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 24/9/2018. Kết quả biểu quyết 3/3 phong trong 01 phong bì được đóng dấu của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa. Toàn bộ vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa, theo biên bản giao nhận vật chứng số 67/THA ngày 04/01/2019 giữa Công an thành phố Thanh Hóa với Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa. Kết quả biểu quyết 3/3 - Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hỡnh sự sơ thẩm. Kết quả biểu quyết 3/3 Nghị án kết thúc vào hồi giờ phút, ngày 30 tháng 01 năm 2019 cùng nghe và ký tên . THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Mai Thị Tiếp Lê Cát Tưởng TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA TỈNH THANH HÓA BÁO CÁO GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÌNH SỰ Tôi là: Trần Thị Thu Phương; Chức vụ: Thẩm phán. HS ngày 03 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo: nhà 03/261 Lê Thánh Tông, phường Đông Sơn, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn Dung và bà Lê Thị Thảo; có vợ: .......................................và có ........ con sinh năm ............; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: Ngày 15/7/2010, Công an TP Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý gây thương tích”; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/9/2018 đến ngày 30/9/2018 chuyển tạm giam phường Đông Sơn, TP Thanh Hóa, tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Than Hóa phát hiện, nghi vấn Đỗ Văn Ngọc đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác đến yêu cầu cầu kiểm tra, Ngọc đã ném 01 chiếc hộp sắt xuống dưới đất sát bụi chuối bên hông số nhà 06A/271. Tổ công tác đã thu giữ chiếc hộp sắt, kiểm tra bên trong phát hiện có 01 gói nilon màu trắng kích thước (01 x 01) cm chứa các hạt tinh thể màu trắng. Ngọc khai gói trong hộp sắt là ma túy đá, mục đích Ngọc cất dấu để sử dụng. Tổ công tác đã đưa Đỗ Văn Ngọc về trụ sở Công an phường Đông Sơn, TP Thanh Hóa lập biên bản phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định của pháp luật. thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: túy, có tổng khối lượng 0,380 gam, loại Methamphetamine ( BL 27). dân thành phố Thanh Hoá truy tố bị cáo Đỗ Văn Ngọc về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015. Thẩm phán dự kiến đề xuất giải quyết vụ án: - Về trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 1, điểm a,c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14. - Đề nghị mức hình phạt: 15 tháng tù đến 18 tháng tù. phong bì thư. Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Ý kiến của lãnh đạo phụ trách: KẾ HOẠCH XÉT HỎI 1. Phần thủ tục bắt đầu phiên tòa - Hôm nay, ngày tháng phiên tòa sơ thẩm công khai xét xử một số vụ án, thay mặt Hội đồng xét xử tôi tuyên bố khai mạc phiên tòa và đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử. Tòa án xét xử vụ thứ nhất đối với bị cáo Đỗ Văn Ngọc Tòa án báo cáo Hội đồng xét xử về sự có mặt, vắng mặt của những người được Tòa án triệu tập và lý do vắng mặt. phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án và kiểm tra lý lịch của bị cáo. - Bị cáo khai rõ họ tên; - Ngoài tên Đỗ Văn Ngọc bị cáo có tên nào khác không - Bị cáo sinh ngày tháng năm nào? 1991 thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa; - Nghề nghiệp: LĐTD , văn hóa: 09/12 - Họ tên bố: Đỗ Văn Dung - Họ tên mẹ: Lê Thị Thảo - Bị cáo đã có vợ , con chưa? - Bị cáo có tiền án chưa ? chưa - Tiền sự chưa: chưa. chính chưa ? hành vi “Cố ý gây thương tích”; - Bị cáo có bị tạm giữ, tạm giam không ? - Bị cáo đã được nhận cáo trạng và QĐ đưa vụ án ra xét xử chưa? và những người tham gia tố tụng khác. Các bị cáo trong các vụ án khác và những người tham gia tố tụng khác có mặt tại phiên tòa đứng dậy nghe tôi giải thích quyền và nghĩa vụ của mình. Bộ luật Tố tụng hình sự. Về quyền: Theo Điều 61 BLTTHS thì bị cáo có những quyền sau: định đưa vụ án ra xét xử chưa?; được quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; quyết định đình chỉ vụ án; bản án, quyết định của Tòa án và các quyết định tố tụng khác theo quy định của bộ luật này; b. được tham gia phiên tòa, tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, đề nghị triệu tập người làm chứng, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người giám định, người định giá tài sản, người tham gia tố tụng khác và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tham gia phiên tòa; đ. được đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu; có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá; bị cáo không mời luật sư bào chữa cho mình vì vậy bị cáo phải tự bào chữa cho mình) chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội; nếu được chủ tọa đồng ý; tranh luận tại phiên tòa. k. Được nói lời nói sau cùng trước khi nghị án. phiên tòa; m. Được kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án. quyền tiến hành tố tụng. o. Các quyền khác theo quy định của pháp luật Về nghĩa vụ: - Bị cáo có nghĩa vụ: do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì có thể bị cáp giải; nếu bỏ trốn thì bị truy nã; b. phải chấp hành quyết định, yêu cầu của Tòa án. bản án trên cổng thông tin điện tử của Tòa án, bị cáo có ý kiến gì không ? tại Điều 62 của Bộ luật tố tụng hình sự. bị hại có các quyền sau: b. được đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu; có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá; d. Đề nghị giám định, định giá tài sản theo quy định của pháp luật; đ. Được thông báo kết quả điều tra, giải quyết vụ án; người định giá tài sản; thường; và những người khác tham gia phiên tòa; tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; xem biên bản phiên tòa; phiên tòa hôm nay người bị hại không nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình nên bị hại tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. k. Tham gia các hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật này; khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình, người thân thích của mình khi bị đe dọa; m. Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án; tiến hành tố tụng; o. Các quyền khác theo quy định của pháp luật. - Bị hại có nghĩa vụ: trường hợp cố ý vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan có thể bị dẫn giải; hành tố tụng. quy định tại Điều 65 của Bộ luật tố tụng hình sự. liên quan có các quyền sau: b. được đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu; c. Yêu cầu giám định, định giá tài sản theo quy định của pháp luật; người khác tham gia phiên tòa; tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; xem biên bản phiên tòa; phiên tòa hôm nay người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình nên tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá. quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình; tiến hành tố tụng; i. Các quyền khác theo quy định của pháp luật. - người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có các nghĩa vụ sau: mình; hành tố tụng. phiên tòa: công làm chủ tọa phiên tòa - Bên tay phải tôi là ông (bà)………………… Ba chúng tôi có quyền quyết định về tội danh, hình phạt và các vấn đề khác có liên quan trong việc giải quyết vụ án. Hùng, Kiểm sát viên giữ quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật vụ án này. Thanh Hóa. diện của bị hại) có đề nghị thay đổi ai trong số thành viên những người tiến hành tố tụng tôi vừa giới thiệu không? không? người làm chứng hoặc yêu cầu đưa thêm vật chứng, tài liệu ra để xem xét hay không? không? tục tranh tụng tại phiên tòa. nếu có. bố có giống nội dung bản cáo trạng bị cáo đã được nhận không? Bị cáo có ý kiến gì đối với bản cáo trạng không. 2. Phần xét hỏi bị cáo Ngọc: H: Vào khoảng 00h 30 ngày 24/9/2018 bị cáo đi đâu và làm gì? Đ: Đ: H: Khi bị bắt giữ thì Công an đã thu của bị cáo những gì ? Đ: ma túy gì? Đ: H: Nguồn gốc số ma túy này bị cáo lấy ở đâu? Đ: Đ: H: Tại sao bị cáo không bán số ma túy mà Dương đưa cho bị cáo: Đ: không từ chối? ma túy cho ai chưa: Đ: H: Mục đích bị cáo cầm số ma túy của Dương để làm gì? Đ: H: Ngoài mục đích để sử dụng, bị cáo còn mục đích nào khác không? Đ: H: Sau khi nhận số ma túy của Dương, bị cáo đã sử dụng chưa? Đ: H: Bị cáo có quan hệ như thế nào với Dương? Đ: chưa ? Đ: không? Có tài liệu chứng cứ nào khác chứng minh Dương đưa ma túy cho bị cáo không? không? Đ: thu giữ của bị cáo tài sản gì khác không ? Đ: gam, loại Methamphetamine, bị cáo có ý kiến gì không ? Đ: về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự đã đúng người, đúng tội, đúng pháp luật chưa? Đ: thêm gì không ? - Bị cáo có đề nghị hỏi thêm gì không ? VKS trình bày lời luận tội: - Bị cáo nghe rõ lời luận tội của đại diện VKS không ? trình bày không ? - Trước khi HĐXX vào nghị án, bị cáo được nói lời nói sau cùng. 4. HĐXX nghỉ nghị án: Thay mặt HĐXX tôi công bố bản án . Bị cáo bị Tòa án TP Thanh Hóa xử phạt TPCMT” Ngoài ra bị cáo còn phải nộp 200.000đ án phí HSST. Nếu bị cáo không đồng ý với bản án mà tôi vừa tuyên thì có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đã ký Trần Thị Thu Phương THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thu Phương CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc BIÊN BẢN NGHỊ ÁN Ông Lê Cát Tưởng ; Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 36/2019/TLST-HS ngày Bị cáo Đỗ Văn Ngọc, sinh năm 1991. tại Thanh Hóa, Nơi ĐKHKTT và Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh - Về điều luật: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều - Về tội danh: Bị cáo Đỗ Văn Ngọc phạm tội “Tàng trữ trái phép chất - Về trách nhiệm hình sự: Xử phạt: Đỗ Văn Ngọc 15 (mười lăm) tháng tù, - Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định được niêm Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thu Phương CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc TP Thanh Hóa, ngày 29 tháng 01 năm 2019 Được phân công giải quyết, xét xử vụ án hình sự thụ lý số 36/2019/TLST- Đỗ Văn Ngọc, sinh năm 1991. tại Thanh Hóa, Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Số NỘI DUNG VỤ ÁN: Khoảng 00h 30’ngày 24/9/2018, tại khu vực ngõ 271 Lê Thánh Tông, Tại Bản kết luận giám định số 2043/MT-PC09 ngày 27/9/2018 của Phòng kỹ Các hạt tinh thể màu trắng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma Tại bản cáo trạng số 28/CT-VKS ngày 02/01/2019 của Viện kiểm sát nhân - Điều luật áp dụng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 - Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong THẨM PHÁN Trần Thị Thu Phương năm, Tòa án nhân dân TP Thanh Hóa mở - Đề nghị mọi người trong Hội trường xét xử ngồi xuống và yêu cầu Thư ký - Thay mặt HĐXX tôi kiểm tra lại sự có mặt của những người có mặt tại - Nơi cứ trú của bị cáo: Số nhà 03/261 Lê Thánh Tông, phường Đông Sơn, - Nhân thân bị cáo đã bị Tòa án nào xét xử hay bị cơ quan nào xử phạt hành Ngày 15/7/2010, Công an TP Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chính về Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/9/2018 đến ngày 30/9/2018 chuyển tạm giam. - Sau đây tôi thay mặt HĐXX, giải thích quyền và nghĩa vụ của bị cáo, Đối với bị cáo, quyền và nghĩa vụ của bị cáo được quy định tại Điều 61 của a. Được nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử. Bị cáo đã được nhận quyết c. được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ quy định tại điều này; d. Đề nghị giám định, định giá tài sản; đề nghị thay đổi người có thẩm quyền e. Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người g. được quyền tự bào chữa, nhờ người khác bào chữa (tại phiên tòa hôm nay h. Trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai i. Đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi hoặc tự mình hỏi người tham gia phiên tòa l. Xem biên bản phiên tòa, yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản n. Được khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm a. Có mặt theo giấy triệu tập của tòa án. Trường hợp vắng mặt không vì lý Theo quy định thì sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, Tòa án sẽ công bố * Bị hại và người đại diện của bị hại có các quyền và nghĩa vụ quy định Điều 62 Bộ luật tố tụng hình sự quy định bị hại, người đại diện hợp pháp của a. được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ quy định tại điều này; c. Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người e. đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, g. Đề nghị hình phạt, mức bồi thường thiệt hại, biện pháp bảo đảm bồi h; Tham gia phiên tòa; trình bày ý kiến, đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi bị cáo i. Tự bảo vệ, nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình. Tại l. Yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng bảo vệ tính mạng, sức n. Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền a. Có mặt theo giấy triệu tập của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; b. Chấp hành quyết định, yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền tiến * Quyền và nghĩa vụ của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được Điều 65 của Bộ luật tố tụng hình sự quy định người có quyền lợi nghĩa vụ a. được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ quy định tại điều này; d. Tham gia phiên tòa; trình bày ý kiến, đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi những đ. Tự bảo vệ, nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình. Tại e.Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người g. Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án về những vấn đề trực tiếp liên h. Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền a. Có mặt theo giấy triệu tập của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; b. Trình bày trung thực những tình tiết liên quan đến quyền và nghĩa vụ của b. Chấp hành quyết định, yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền tiến Thay mặt HĐXX, tôi giới thiệu thành viên của HĐXX, KSV, Thư ký - Tôi là Trần Thị Thu Phương - thẩm phán TAND TP Thanh Hóa được phân - Bên tay trái tôi là ông (bà)………………….. là 2 HTND TP Thanh Hóa. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa là Ông Lê Hữu - Thư ký phiên tòa (bà) Mai Thị Thu Trang, thư ký Tòa án Tòa án thành phố - Để thực hiện một trong số các quyền của mình, bị cáo (bị hại, người đại Kiểm sát viên có đề nghị thay đổi ai trong những người tiến hành tố tụng - Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng có ai yêu cầu triệu tập thêm - Về phần thủ tục bắt đầu phiên tòa đại diện VKS có ý kiến bổ sung gì Tôi tuyên bố Kết thúc phần thủ tục bắt đầu phiên tòa chuyển sang phần thủ Đề nghị đại diện VKS công bố bản cáo trạng và trình bày ý kiến bổ sung Bị cáo Ngọc cho HĐXX biết nội dung bản cáo trạng kiểm sát viên vừa công H: Bị cáo trình bày lại toàn bộ sự việc xảy ra hồi 00h 30 ngày 24/9/2018 ? H: Gói ma túy công an thu giữ của bị cáo có đặc điểm như thế nào? Là loại H: Khi đưa số ma túy này cho bị cáo thì Dương có nói gì với bị cáo không? H: Tại sao khi Dương đưa ma túy cho bị cáo để nhờ bị cáo bán, bị cáo lại H: Dương nhờ bị cáo bán ma túy cho Dương bao nhiêu lần rồi, bị cáo đã bán H: Quá trình điều tra công an đã cho bị cáo và Dương đối chất với nhau H: Dương không thừa nhận việc đưa ma túy cho bị cáo, bị cáo có ý kiến gì H: Khi Dương đưa ma túy cho bị cáo có ai chứng kiến hoặc biết việc này H: Khi bắt người phạm tội quả tang, ngoài số ma túy đã thu giữ, công an có H: Số ma túy công an thu của bị cáo qua giám định có khối lượng 0,380 H: Bị cáo có nhận thức gì về hành vi phạm tội của mình, VKS truy tố bị cáo Về phần xét hỏi các vị HTND có hỏi thêm gì không ? Đại diện VKS có hỏi 3. Kết thúc việc xét hỏi chuyển sang phần tranh luận. Đề nghị đại diện - Bị cáo có ý kiến tranh luận gì về đơi với lời luận tội mà đại diện VKS vừa Giao bị cáo cho các đồng chí công an giám sát trong thời gian HĐXX nghị án. tháng tù về tội “Tàng trữ |