- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thị Thanh Thùy - phạm tội chứa mại dâm (điều 327 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị Thanh T phạm tội “Chứa mại dâm”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2019/HS-ST Ngày: 25-7-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Triệu Luật.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Kim Dung.
Bà Đỗ Thị A.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Anh Tú – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dânQuận 10 tham gia phiên tòa:
Bà Trần Thị Hương Lan - Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 7 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 39/2019/TLST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2019/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:
Trần Thị Thanh T; sinh năm: 1987 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi tạm trú: đường Đ, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần D và bà: Dương Thị C (chết); có chồng: Nguyễn H (chết) và 01 con (sinh năm 2010), hiện đang mang thai: 06 tuần 06 ngày tuổi; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị cáo đang tại ngoại.
(Bị cáo có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1/Bà Nguyễn Thị Bích L – Sinh năm: 1961 (vắng mặt).
Địa chỉ: đường B, Phường N, Quận S, TP.HCM.
2/Ông Trần Kiến Q – Sinh năm: 1978 (vắng mặt).
Địa chỉ: đường T, Phường N, Quận O, TP.HCM.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 45 phút ngày 26/3/2018, Công an Phường 11, Quận 10 kết hợp Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an Quận 10 kiểm tra tiệm hớt tóc “A” – địa chỉ: đường T, Phường N, Quận O, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện có hai cặp nam nữ đang thực hiện hành vi mua bán dâm, cụ thể như sau: Phòng bên trái cầu thang: Khách mua dâm là Nguyễn Văn L và gái bán dâm là Trần Thị Thanh T; Phòng bên phải cầu thang: Khách mua dâm là Lê Anh T và gái bán dâm là Nguyễn Thị Thu H. Vụ việc được Công an Phường 11, Quận 10 lập hồ sơ chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 điều tra, làm rõ.
Quá trình điều tra, Trần Thị Thanh T (là chủ tiệm hớt tóc “A”), Trần Kiến Q, Nguyễn Thị Thu H, Nguyễn Văn L và Lê Anh T khai nhận như sau:
Trần Thị Thanh T đứng tên đăng ký kinh doanh tiệm hớt tóc “A”, Trần Kiến Q đứng tên trong hợp đồng thuê căn nhà S đường T, Phường N, Quận O. T mở tiệm hớt tóc “A” được khoảng 4 tháng, tiệm hoạt động chủ yếu là massage kích dục với giá 500.000đ/1suất (nhân viên hưởng 300.000đ, T hưởng 200.000đ).
Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 26/3/2018, Nguyễn Thị Thu H được T (là nhân viên tiệm hớt tóc “A”) gọi qua mạng xã hội Facebook qua tiệm để phục vụ khách. Hóa điều khiển xe biển số 59V2-509.33 đến tiệm hớt tóc “A”.
Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 26/3/2018, các anh Nguyễn Văn L và Lê Anh T đến tiệm hớt tóc “A” gặp T và hỏi mua dâm. T dẫn khách lên lầu 1, T bán dâm anh L với giá 1.000.000đ, H bán dâm cho anh T với giá 1.000.000đ. Trần Kiến Q ở dưới trông coi cửa tiệm và giữ xe cho khách (Q không biết T và H bán dâm cho khách).
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 đã quyết định khởi tố Trần Thị Thanh T về hành vi “Chứa mại dâm” đối với cặp mua bán dâm Lê Anh T và gái bán dâm là Nguyễn Thị Thu H.
Ngoài ra, 03 điện thoại di động (thu giữ của Trần Thị Thanh T, Nguyễn Thị Thu H); 2.000.000đ (thu giữ của Nguyễn Văn L và Lê Anh T) là những tài sản không liên quan đến vụ án, Công an Quận 10 đã trả lại tài sản cho bị can và những người có quyền lợi liên quan.
Riêng 02 bao cao su (đã qua sử dụng), cơ quan Công an còn tạm giữ.
Đối với căn nhà S đường T, Phường N, Quận O do bà Nguyễn Thị Bích L đứng tên chủ sở hữu. Việc Trần Thị Thanh T thực hiện hành vi chứa mại dâm, bà L không biết nên Cơ quan Công an Quận 10 không xử lý.
Đối với Trần Kiến Q không biết việc T cũng như nhân viên bán dâm cho khách tại nhà S đường T, Phường N, Quận O, không hưởng lợi từ việc “Chứa mại dâm” của T, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 không xử lý.
Đối với Nguyễn Thị Thu H, Nguyễn Văn L và Lê Anh T có hành vi mua bán dâm, Công an Quận 10 đã xử phạt hành chính.
Tại bản Cáo trạng số 09/CT-VKS ngày 14 tháng 01 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành Phố Hồ Chí Minh đã truy tố: Trần Thị Thanh T về tội: “Chứa mại dâm” theo khoản 1 Điều 327 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa hôm nay:
- Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo đúng theo nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, bị hại, sau khi nêu lên những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có hoàn cảnh chồng chết mà phải trực tiếp nuôi con nhỏ và hiện đang có thai) của bị cáo; đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 327; điểm s, n khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo: Từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 năm đến 04 năm, miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý các vật chứng theo đúng quy định của pháp luật.
- Ý kiến của bị cáo: Không có ý kiến gì tranh luận.
- Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên thu thập; do bị can, bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, những chứng cứ, tài liệu trong vụ án đều hợp pháp.
Về hành vi, quyết định tố tụng của của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung bị can mà các bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Nhận định hành vi và điều khoản xét xử:
Tại Cơ quan điều tra, cũng như trước phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình, qua lời khai nhận của bị cáo, đối chiếu với lời khai của gái bán dâm, các người mua dâm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, vật chứng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án là phù hợp, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định bị cáo Tràn Thị Thanh T phạm tội “Chứa mại dâm”.
Bị cáo là chủ tiệm hớt tóc “A”, đã có hành vi để nhân viên của mình và người mua dâm thực hiện hành vi mua bán dâm ngay tại nơi thuộc quyền quản lý của mình như đã nêu trên; nên bị cáo bị truy tố về tội “Chứa mại dâm” theo khoản 1 Điều 327 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).
Riêng đối với bị cáo trực tiếp thực hiện hành vi mua bán dâm tại tiệm hớt tóc “A” (nơi mình quản lý), chỉ nhằm thỏa mãn việc thực hiện hành vi “Mua bán dâm”, nên không xem xét trách nhiệm hình sự về hành vi “Chứa mại dâm” đối với trường hợp này.
Việc áp dụng hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đồng thời vi phạm nghiêm trọng chỉ thị 814/TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc “Bài trừ các loại tệ nạn xã hội nghiêm trọng”, trong đó có tệ nạn về mại dâm. Mại dâm là mối hiểm họa cho gia đình và xã hội, làm băng hoại nhân cách và suy đồi đạo đức, trong khi chính quyền các cấp cùng nhân dân đang ra sức đấu tranh thực hiện chương trình 03 giảm: “Giảm ma túy, giảm mại dâm, giảm tội phạm”, thì bị cáo lại đi ngược lại mục tiêu trên; do vậy dù có chiếu cố đến đâu đi nữa, pháp luật cũng cần biểu hiện thái độ nghiêm khắc, cần phải đưa ra xét xử trước pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tuy nhiên xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, lại có nhiều tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, hoàn cảnh gia đình đáng thương: Rất khó khăn, chồng chết, hiện trực tiếp nuôi con nhỏ (có xác nhận của địa phương), đang mang thai; đó là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm n, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) mà Hội đồng xét xử sẽ áp dụng đối với bị cáo như đã phân tích trên. Do vậy Hội đồng xét xử cần nhận định như sau: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, trong đó có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), do vậy căn cứ theo hướng dẫn tại Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử xét thấy trường hợp và hoàn cảnh của bị cáo không cần thiết bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà căn cứ vào Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) cho bị cáo hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách tương ứng đối với bị cáo, giao cho Ủy ban nhân dân phường nơi bị cáo cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách, ngoài ra bị cáo phải thực hiện đúng nghĩa vụ trong thời gian thử thách, như lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 đã nêu, đồng thời miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:
Về vật chứng:
Đối với: 02 bao cao su (đã qua sử dụng); không đáng giá trị; vậy căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; tịch thu và tiêu hủy.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị Thanh T phạm tội “Chứa mại dâm”.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 327; điểm n, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Trần Thị Thanh T;
Xử phạt bị cáo Trần Thị Thanh T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án (25/7/2019).
Giao Trần Thị Thanh T cho Ủy ban nhân dân phường nơi cư trú (phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh) để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách (Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự).
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo T.
- Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; tịch thu và tiêu hủy: 01 bao cao su hiệu Durexd [đang sử dụng đã niêm phong có chữ ký của H và đương sự T (khách mua dâm) ký giáp lai], 01 bao cao su hiệu Durexd [đang sử dụng đã niêm phong có chữ ký của T và đương sự L (khách mua dâm) ký giáp lai].
(Tình trạng vật chứng và tài sản theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 10/01/2019 giữa Công an Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh và Chi cục Thi hành dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc:
- Bị cáo T chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình.
Thời hạn kháng cáo là 15 ngày; đối với bị cáo tính từ ngày tuyên án, đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày được giao hoặc ngày niêm yết bản án.
(Đã giải thích chế định án treo)./.
| Nơi nhận: - Sở Tư pháp TP.HCM; (1) - TAND TP.HCM; (1) - VKSND Q.10; (2) - Công an Q.10; (2) - Chi cục THADS Q.10; (1) - Người tham gia tố tụng; (5) - Lưu: VP, THAHS, Hồ sơ. (5) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Triệu Luật |