vanban.org

Bản án 41/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương Tuyên án 29/08/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Huy T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ”.

Xử phạt bị cáo Đoàn Huy T 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội về ...án phí và lệ phí Toà án. Miễn án phí hình sự sơ t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Huy T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Huy T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2019/HS-ST
Ngày 29-8-2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quân.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Hải và ông Vũ Đình Đồng

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hiên- Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Khắc Đạo - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 45/2019/HSST ngày 14-8-2019, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 43/2019/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo:

Đoàn Huy T, sinh năm 1995; Nơi ĐKHKTT: thôn Đ, xã N, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng; Địa chỉ hiện nay (do sát nhập thôn): thôn A, xã N, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông (không xác định) và bà: Đoàn Thị C. Tiền án, tiền sự; không; nhân thân tốt: Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cƣ trú, có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị C- Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nƣớc tỉnh Hải Dƣơng, có mặt.

- Người bị hại:

+ Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1962

Địa chỉ: thôn C, xã Q, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng (đã chết).

- Người đại diện hợp pháp của người bị hại:

+ Cụ Nguyễn Hữu Đ, sinh năm 1933 (bố đẻ ông L).

ĐKHKTT: thôn M, xã Q, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng

+ Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1963 (vợ ông L) và là ngƣời đại diện cho anh Nguyễn Quang T, sinh năm 1992 (con ông L), bị khuyết tật.

Trú quán: thôn C, xã Q, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng

+ Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1989 (con ông L)

ĐKHKTT: thôn H, xã Q, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng

- Ngƣời đại diện theo uỷ quyền: Anh Đoàn Đình Đ, sinh năm 1988.

ĐKHKTT: thôn H, xã Q, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng

(Cụ Đ, bà L, chị T đều ủy quyền cho Đ tham gia tố tụng, theo văn bản uỷ quyền ngày 21/8/2019), anh Đ đề nghị vắng mặt.

- Người làm chứng:

+ Bà Nguyễn Thị Â, sinh năm 1968

+ Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1955.

Đều trú quán: thôn C, xã Q, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng

+ Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1973;

+ Bà Phạm Thị H, sinh năm 1966

Đều ĐKHKTT: thôn M, xã Q, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng

+ Anh Đồng Văn A, sinh năm 1994;

+ Anh Đồng Văn V, sinh năm 1987;

Đều ĐKHKTT: thôn A, xã Q, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng

Bà Â, bà C, anh T, bà H, anh Văn A, anh V đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Đoàn Huy T không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định. Khoảng 18 giờ, ngày 20/4/2019, T đều khiển xe mô tô biển số 34F9-2..5, dung tích xi lanh 97cm3 đến nhà anh Đồng Văn A ở thôn A, xã Q, huyện Tứ Kỳ dự liên hoan nhà mới. Sau khi ăn xong, T điều khiển xe mô tô của mình từ nhà anh Văn A về nhà theo hƣớng C đi UBND xã Q. Khoảng 21 giờ cùng ngày, T điều khiển xe mô tô đến đoạn gần ngã ba giao nhau giữa trục đƣờng xã và đƣờng bê tông lối đi vào chùa M, xã Q, huyện Tứ Kỳ thì phát hiện thấy xe mô tô biển số 17H5-7..4 do ông Nguyễn Văn L điều khiển hƣớng từ chùa M ra trục đƣờng xã rẽ trái về hƣớng C. Ông L đã sang đƣờng và đi ở phần bên phải theo chiều đi của mình. Do trời tối, đƣờng vắng, đi với tốc độ nhanh nên khi phát hiện thấy mô tô của ông L với khoảng cách quá gần, T không kịp phanh nên điều khiển xe mô tô đi sang phần đƣờng bên trái theo chiều đi của mình dẫn đến va chạm với xe mô tô do ông L đang điều khiển đi ngƣợc chiều. Hậu quả ông Nguyễn Văn L bị thƣơng nặng, đƣợc đƣa đi cấp cứu tại Bệnh Viện H, Bệnh viện đa khoa tỉnh H, đến 08 giờ 55 phút, ngày 21/4/2019 chết tại gia đình.

Tại kết luận giám định pháp y số 112/KLGĐ ngày 28/4/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Hải Dƣơng kết luận: ông Nguyễn Văn L chết do chấn thƣơng đầu, mặt, đã phẫu thuật sọ não, không hồi phục (vỡ xƣơng sọ, dập não, chảy máu; gãy vỡ xƣơng chính mũi).

Sau khi gây tai nạn, Đoàn Huy T và gia đình đã bồi thƣờng cho gia đình ông L số tiền 40.000.000 đồng. Anh Đoàn Đình Đ (là đại diện theo uỷ quyền của gia đình ông L) đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu bồi thƣờng thêm về trách nhiệm dân sự và có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo T.

Tại bản Cáo trạng số: 44/CT-VKS ngày 12-8-2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ truy tố bị cáo Đoàn Huy T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự (BLHS).

Tại phiên toà: VKSND huyện Tứ Kỳ giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS. Tuyên bố bị cáo Đoàn Huy T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ”; xử phạt Đoàn Huy T từ 37 đến 40 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án; Về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng: Không phải giải quyết; miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo T.

Bị cáo nhận tội nhƣ tại cơ quan điều tra, ngƣời bào chữa cho bị cáo T- bà Nguyễn Thị C nhất trí với luận tội của VKSND huyện Tứ Kỳ. Đề nghị HĐXX xem xét xử phạt bị cáo ở mức khởi điểm của khung hình phạt và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo do thuộc diện hộ nghèo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai nhân chứng, biên bản khám nghiệm hiện trƣờng, biên bản khám nghiệm phƣơng tiện, biên bản khám nghiệm tử thi, kết luận giám định pháp y và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ, ngày 20/4/2019, tại đoạn đƣờng gần ngã ba giao nhau giữa trục đƣờng xã và đƣờng bê tông lối vào chùa thôn M, xã Q, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng. Đoàn Huy T điều khiển xe mô tô BKS 34F9-2..5 hƣớng từ C đi UBND xã Q, do đi xe máy với tốc độ nhanh và đi không đúng phần đƣờng quy định nên đã va chạm với xe mô tô BKS 17H5-7..4 do ông Nguyễn Văn L điều khiển đi ngƣợc chiều. Hậu quả làm ông L bị chết do chấn thƣơng đầu, mặt, đã phẫu thuật sọ não, không hồi phục (vỡ xƣơng sọ, dập não, chảy máu; gãy vỡ xƣơng chính mũi). Bị cáo là ngƣời có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, điều khiển xe không đi đúng phần đƣờng, không chú ý quan sát, giảm tốc độ, vi phạm khoản 9 Điều 8; khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đƣờng bộ nên đã gây tai nạn giao thông, hậu quả làm 1 ngƣời chết, đã đủ cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ”, quy định tại Điều 260 BLHS. Do bị cáo không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo điểm a khoản 2 Điều 260 BLHS, nhƣ quyết định truy tố của của VKSND huyện Tứ Kỳ là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự an toàn giao thông đƣờng bộ, sự hoạt động bình thƣờng của các phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ, gây thiệt hại đến tính mạng của ngƣời khác, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, tình hình tai nạn giao thông có chiều hƣớng gia tăng, gây nhiều thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của ngƣời khác nên cần phải xử lý nghiêm theo đúng quy định của pháp luật.

Xét tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, điều kiện nhân thân của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo và gia đình bồi thƣờng cho gia đình ngƣời bị hại, đại diện gia đình ngƣời bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên đƣợc hƣởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS, bản thân bị cáo là ngƣời có nhân thân tốt, chƣa có tiền án, tiền sự, vì vậy HĐXX sẽ xem xét, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện tính khoan hồng của pháp luật. Song dù có giảm nhẹ vẫn cần thiết buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian để chấp hành hình phạt tù mới đủ tác dụng giáo dục riêng bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa đối với loại tội phạm này.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi gây tai nạn, bị cáo cùng gia đình đã bồi thƣờng cho gia đình ngƣời bị hại số tiền 40 triệu đồng. Những ngƣời đại diện của ngƣời bị hại đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu bồi thƣờng gì thêm về trách nhiệm dân sự; đối với xe mô tô BKS 17H5-7..4 do ông Nguyễn Văn L điều khiển, sau khi bị tai nạn, xe bị hƣ hỏng nặng nhƣng đại diện gia đình ngƣời bị hại không yêu cầu định giá và không yêu cầu bồi thƣờng nên không đặt ra giải quyết.

Về vật chứng: Đối với chiếc xe mô tô, BKS 34F9-2..5 do Đoàn Huy T điều khiển và xe mô tô BKS 17H5-7..4 do ông Nguyễn Văn L điều khiển, xét thấy đây là tài sản hợp pháp của T và ông L, Cơ quan điều tra đã trả lại xe và các giấy tờ có liên quan cho bị cáo và gia đình ông L nên không đặt ra việc giải quyết.

Về án phí: Do Đoàn Huy T thuộc diện hộ nghèo theo quy định, nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan, ngƣời tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s, khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

1. Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Huy T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ”.

Xử phạt bị cáo Đoàn Huy T 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội về ...án phí và lệ phí Toà án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Đoàn Huy T.

3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; ngƣời đại diện hợp pháp cho ngƣời bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc ngày niêm yết bản án./.

Cỡ chữ