vanban.org

Bản án 41/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An Tuyên án 11/04/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hà Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Bị cáo Hà Văn P có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bào chữa cho bị cáo; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hà Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
Toµ ¸n nh©n d©n
huyÖn QuÕ phong
TØnh NGhÖ An

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41 /2019/HS-ST
Ngày 11 - 4 - 2019

N H Â N D A N H

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ PHONG, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lô Thị Châu

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Văn Lương

2. Ông Lô Văn Tuất

- Thư ký phiên toà: Ông Lang Thanh Như - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Nghệ An

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Q tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Long - Kiểm sát viên

Ngày 11 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 25/2019/TLST-HS ngày 08 tháng 03 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2019/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2019 đối với bị cáo:

Hà Văn P, sinh năm 1992, tại huyện Q, tỉnh Nghệ An;

Nơi cư trú: Bản S, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Nguyên trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn V, và bà Hà Thị S; vợ: Ngân Thị A, con: Có 01 người, sinh năm 2013; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Năm 2014 bị Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Nghệ An xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/12/2018. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Hoàng Thị Thu Hằng, Trợ giúp viên pháp lý, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Nghệ An. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 18/12/2018, Hà Văn P trú tại Bản S, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An đi lên bản Pà Khốm, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An gặp một người phụ nữ không quen biết, Hà Văn P hỏi người phụ nữ đó có viên Hồng phiến để bán không, người phụ nữ đó trả lời không có nhưng biết chỗ bán, Hà Văn P liền đưa cho người phụ nữ đó 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng), người phụ nữ cầm tiền quay đi, một lúc sau người phụ nữ đó quay lại và đưa cho Hà Văn P 01 (Một) gói ni lông màu xanh nhạt bên trong đựng 04 (Bốn) viên ma túy, sau khi mua được ma túy Hà Văn P cất dấu ma túy rồi đi về. Trên đường đi về thì bị tổ công tác Công an huyện Q kiểm tra phát hiện, bắt quả tang. Thu giữ của bị cáo 01 (Một) gói ni lông màu xanh nhạt bên trong đựng 04 (Bốn) viên nén màu hồng nghi là ma túy (Methamphentamine) và 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu hồng nhạt đã qua sử dụng.

Tại cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Q xác đinh trọng lượng 04 (Bốn) viên nén màu hồng nghi là ma túy (Methamphentamine), có khối lượng 0,4 gam (Không phẩy bốn gam).

Bản kết luận giám định số: 167/KL - PC09(MT) ngày 21/12/2018 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Mẫu viên nén màu hồng thu giữ của Hà Văn P gửi tới giám định là ma túy (Methamphentamine), có khối lượng là 0,4 gam (Không phẩy bốn gam).

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Hà Văn P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Cụ thể: Vào ngày 18/12/2018 tại khu vực bản Pà Khốm, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An, Hà Văn P đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy thì bị bắt quả tang. Thu giữ của Hà Văn P 04 (Bốn) viên ma túy (Methamphentamine), có khối lượng là 0,4 gam (Không phẩy bốn gam) và 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu hồng nhạt.

Bản cáo trạng số: 34/CT-VKS-QP ngày 07/3/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Hà Văn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Đối với người phụ nữ có hành vi đi mua ma túy cho Hà Văn P, do không xác minh được họ tên và địa chỉ nên không có cơ sở để điều tra xử lý.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như bản cáo trạng đã kết luận. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hà Văn P từ 12 (Mười hai) đến 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Đề nghị áp dụng các điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 01 một phong bì thư bưu điện bên trong đựng 03 (Ba) viên nén màu hồng có khối lượng 0,3 gam (Không phẩy ba gam), vỏ phong bì niêm phong cũ, vỏ bao ni lông màu xanh nhạt thu giữ của bị cáo; trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO màu hồng nhạt đã qua sử dụng. Áp dụng các Điều 135,136 của bộ luật tố tụng hình sự buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Người bào chữa cho bị cáo không tranh luận về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo mức thấp nhất của khung hình phạt là 12 (Mười hai) tháng tù và miễn hình phạt tiền cho bị cáo.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và người bào chữa cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, hội đồng xét xử nhận định như sau:

(1)Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Hội đồng xét xử, kiểm sát viên thực hiện quyền công tố, thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

(2) Về nội dung vụ án: Ngày 18/12/2018 tại khu vực bản Pà Khốm, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An, Hà Văn P đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy thì bị bắt quả tang. Thu giữ của Hà Văn P 04 (Bốn) viên ma túy (Methamphentamine), có khối lượng là 0,4 gam (Không phẩy bốn gam) và 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu hồng nhạt. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến sự độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, do đó bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

(3) Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy. Hành vi của bị cáo còn làm ảnh hưởng về mặt xã hội làm gia tăng tệ nạn xã hội về ma túy, làm ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe, nòi giống của con người, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng; nhân thân bị cáo năm 2014 bị Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Nghệ An xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Do vậy cần xét xử nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt cho xã hội, răn đe và phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Có 01 tình tiết giảm nhẹ là có thái độ thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải, được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015, do vậy khi quyết định hình phạt càn xem xét để giảm một phần hình phạt cho bị cáo.

(4) Tại phiên tòa hôm nay Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Q đề nghị xử phạt bị cáo Hà Văn P từ 12 (Mười hai) đến 18 (Mười tám) tháng tù; người bào chữa cho bị cáo đề nghị xử phạt bị cáo 12 (Mười hai) tháng tù. Đề nghị của đại diện viện kiểm sát và người bào chữa cho bị cáo là hợp lý.

(5)Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 500.000.000đ, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”, do đó bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy: Bị cáo không có việc làm ổn định, thu nhập thấp, điều kiện kinh tế khó khăn, không có tài sản. Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

(6)Về vật chứng: Đối với 04 (Bốn) viên ma túy (Methamphentamine), có khối lượng là 0,4 gam (Không phẩy bốn gam) và 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu hồng nhạt, cơ quan điều tra đã lấy đi giám định 01 (Một) viên ma túy, còn lại 03 (Ba) viên ma túy, đây là vật nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu hồng nhạt xét thấy không liên quan đến vụ án nên cần trả lại theo quy định của pháp luật.

(7)Về án phí: Bị cáo bị kết án phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Hà Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Phạt bị cáo Hà Văn P 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 18/12/2018.

Căn cứ vào điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 một phong bì thư bưu điện bên trong đựng 03 (Ba) viên nén màu hồng có khối lượng 0,3 gam (Không phẩy ba gam), vỏ phong bì niêm phong cũ, vỏ bao ni lông màu xanh nhạt thu giữ của bị cáo; trả lại cho bị cáo Hà Văn P 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO màu hồng nhạt đã qua sử dụng. Chi tiết vật chứng được ghi cụ thể tại biên bản giao, nhận vật chứng ngày 28/3/2019 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Q và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Q, tỉnh Nghệ An.

Căn cứ vào Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Hà Văn P phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Hà Văn P có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ