- Tranh chấp gì? án hình sự — "đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn S phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2019/HS-ST Ngày: 30-10-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Cẩm Nhung.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà: Quang Kim Cúc;
Ông: Nguyễn Phát Triển.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Cao Diễm là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Bà Phan Bích Liễu - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 10 năm 2019, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Lai Vung xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 42/2019/TLST-HS, ngày 01 tháng 10 năm 2019; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2019/QĐXXST-HS, ngày 04 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:
Lê Văn S, sinh năm: 1967, tại Đồng Tháp; Tên gọi khác: Bảy Sen; Nơi cư trú: ấp T, xã P, huyện LV, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn D (chết) và bà Trương Thị C; Có vợ và 02 người con; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 02/7/2018, bị Công an xã Đ, huyện LV, tỉnh Đồng Tháp, xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức lắc tài xỉu ăn thua bằng tiền; Không bị bắt tạm giữ, tạm giam. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đang tại ngoại tại ấp T, xã P, huyện LV, tỉnh Đồng Tháp. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Nguyễn Văn T, sinh năm: 1965 (vắng mặt tại phiên tòa).
Nơi cư trú: ấp Đ xã Đ, huyện LV, tỉnh Đồng Tháp.
- Người làm chứng:
1. Nguyễn Văn P, sinh năm: 1995 (vắng mặt tại phiên tòa).
Nơi cư trú: ấp Đ, xã Đ, huyện LV, tỉnh Đồng Tháp.
2. Nguyễn Văn C, sinh năm: 1979 (vắng mặt tại phiên tòa).
Nơi cư trú:, ấp Đ, xã Đ, huyện LV, tỉnh Đồng Tháp.
3. Lê Văn Đ, sinh năm: 1988 (vắng mặt tại phiên tòa).
Nơi cư trú: ấp Đ, xã Đ, huyện LV, tỉnh Đồng Tháp .
4. Nguyễn Thanh N, sinh năm: 1985 (vắng mặt tại phiên tòa).
Nơi cư trú: ấp T, xã P, huyện LV, tỉnh Đồng Tháp.
5. Nguyễn Thanh Tuấn E, sinh năm: 1997 (vắng mặt tại phiên tòa).
Nơi cư trú: ấp Đ, xã Đ, huyện LV, tỉnh Đồng Tháp.
6. Phạm Văn V, sinh năm: 1987 (có mặt tại phiên tòa).
Nơi cư trú: ấp Đ, xã Đ, huyện LV, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 14 giờ, ngày 16/12/2018, Công an huyện LV, tỉnh Đồng Tháp, bắt quả tang vụ đánh bạc bằng hình thức lắc tài xỉu được thua bằng tiền tại bãi đất trống của ông Nguyễn Văn H thuộc ấp Đ, xã Đ, huyện LV, tỉnh Đồng Tháp (hiện tại ông H vắng mặt tại địa phương) có 05 đối tượng tham gia gồm: Lê Văn S, Nguyễn Thanh Tuấn E, Lê Văn Đ, Nguyễn Văn P, Nguyễn Thanh N và thu giữ tang vật tại chiếu bạc gồm: 100.000 đồng, 01 chén nhỏ màu trắng bằng bê ka, 03 hột xí ngầu, 01 cóc nhỏ bằng nhựa màu đỏ, 01 miếng giấy cứng có chữ “T, X”.
Trong quá trình điều tra đã xác định được như sau: Địa điểm đánh bạc (lắc tài xỉu) do các đối tượng tự đứng ra đánh bạc không có ai lấy tiền xâu, đặt cược cao nhất là 20.000 đồng và thấp nhất là 10.000 đồng. Nguyễn Văn T là người làm cái dùm cho Nguyễn Thanh Tuấn E khoảng 5-6 ván; Lê Văn S, Nguyễn Thanh Tuấn E, Lê Văn Đ, Nguyễn Văn P, Nguyễn Thanh N là những người tham gia đặt cược. Lê Văn S tham gia đặt cược 02 bàn, mỗi bàn 10.000 đồng bên Tài và thua hết 02 bàn với số tiền là 20.000 đồng, S chuẩn bị chơi bàn thứ 03 thì bị Công an bắt quả tang.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lai Vung đã thu giữ của Lê Văn S gồm: 01 điện thoại di động màu đỏ - đen, có ghi chữ NOKIA, số IMEL 1: 352357/06/416430/2; 02 tờ polime mệnh giá 10.000 đồng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lai Vung thu giữ các đồ vật, tài liệu như sau: Tiền thu tại chiếu bạc là 100.000 đồng; 01 chén nhỏ màu trắng, bằng bê ka; 03 hột xí ngầu; 01 cóc nhỏ bằng nhựa, màu đỏ; 01 miếng giấy cứng, trên giấy cứng có ghi chữ “T, X”.
Đối với hành vi của Nguyễn Văn T; Nguyễn Vũ L; Nguyễn Thanh Tuấn E, Lê Văn Đ, Nguyễn Văn P, Nguyễn Thanh N vào ngày 16/12/2018 có tham gia đánh bạc cùng với Lê Văn S và những người khác, đến khoảng 14 giờ cùng ngày thì bị Công an bắt quả tang và đã bị Công an huyện Lai Vung xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc.
Trong quá trình điều tra bị cáo Lê Văn S thành khẩn khai báo, ăn năn hổi cải về hành vi của mình.
Tại bản cáo trạng số: 39/CT-VKS, ngày 30/9/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung, đã truy tố Lê Văn S ra trước Toà án nhân dân huyện Lai Vung, để xét xử về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo Lê Văn S đã khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung truy tố bị cáo về tội “Đánh bạc”.
- Bị cáo Lê Văn S tự nguyện nộp 01 điện thoại di động màu đỏ-đen, có ghi chữ NOKIA, số IMEL 1: 352357/06/416430/2 và 20.000 đồng để sung Ngân sách Nhà nước.
- Người làm chứng Phạm Văn V trình bày: Vào ngày 16/12/2018 anh V đi đám cưới về thấy ở trong quán của mình có đánh bạc với hình thức lắc tài xủi nên anh V không đồng ý, sau đó những người này kéo ra bãi đất trống của ông Nguyễn Văn H chơi, ngoài ra anh V không biết gì thêm.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Khẳng định việc truy tố như Bản cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Lê Văn S là người đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính, vào lúc 14 giờ ngày 16/12/2018 tại tại bãi đất trống thuộc ấp Đ, xã Đ, huyện LV, tỉnh Đồng Tháp, Lê Văn S đã trực tiếp tham gia lắc tài xỉu được 02 bàn mỗi bàn 10.000 đồng và đã thua 20.000 đồng thì bị Công an phát hiện bắt quả tang, khi thực hiện hành vi bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng gia đình bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, chưa có tiền án, nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt Lê Văn S từ 01 năm đến 02 tù cải tạo không giam giữ.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Lai Vung căn cứ khoản 3 Điều 321 Bộ luật dân sự phạt tiền đối với Bị cáo Lê Văn S từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Không có.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên:
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 chén nhỏ màu trắng, bằng bê ka;
+ 03 hột xí ngầu;
+ 01 cóc nhỏ bằng nhựa, màu đỏ.
+ 01 miếng giấy cứng, trên giấy cứng có ghi chữ “T, X” và số thứ tự từ 01 đến 06.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: tiền thu tại chiếu bạc là 100.000 đồng;
- Tịch thu 01 điện thoại di động màu đỏ-đen, có ghi chữ NOKIA, số IMEL 1: 352357/06/416430/2 và 20.000 đồng để sung Ngân sách Nhà nước do bị cáo Lê Văn S không có yêu cầu được nhận lại.
(Vật chứng trên hiện do Chi cục thi hành án dân sự huyện Lai Vung đang quản lý).
Bị cáo Lê Văn S thống nhất với Bản cáo trạng và Luận tội của Kiểm sát viên. Bị cáo yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên của huyện Lai Vung trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Lê Văn S thừa nhận đã có hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền cùng với Nguyễn Thanh Tuấn E, Lê Văn Đ, Nguyễn Văn P, Nguyễn Thanh N với hình thức lắc tài xủi, là phù hợp hiện trường vụ án và vật chứng thu giữ, lời khai những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do đó lời nhận tội của bị cáo là có căn cứ. Bị cáo thực hiện tội phạm với lỗi cố ý, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật. Số tiền mà bị cáo dùng để tham gia đánh bạc là 20.000 đồng (dưới 5.000.000 đồng), nhưng bị cáo đã có 01 tiền sự về hành vi đánh bạc, bị Công an xã Đ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc ngày 02/7/2018, lại tiếp tục phạm tội, đây là tình tiết định khung hình phạt đối với bị cáo. Nên hành vi của bị cáo Lê Văn S có đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” phạm vào khoản 1, khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
Tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
………………………………………….
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.
Về tính chất, mức độ tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an ở địa phương, kỷ cương pháp luật bị xâm hại, xâm phạm đến khách thể là trật tự công cộng, được luật hình sự bảo vệ, đánh bạc là một tệ nạn xã hội, pháp luật nghiêm cấm, vì nó là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm khác, thậm chí gây mất hạnh phúc trong gia đình, bị mọi người và xã hội lên án, thế nhưng bất chấp tất cả và ý thức không tôn trọng luật pháp mà bị cáo đã tham gia đánh bạc ăn thua bằng tiền, vì vậy việc đưa bị cáo ra xét xử công khai như ngày hôm nay là cần thiết, thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật, đồng thời nhằm mục đích giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
Tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, nhưng đã làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự xã hội ở địa phương, quần chúng bất bình, gây dư luận xấu trong địa bàn, vì vậy cần phải xử lý nghiêm để bị cáo từ bỏ hành vi của mình và nhằm tạo điều kiện cho bị cáo học tập lao động thành người có ích cho gia đình và xã hội về sau này.
Đối với Nguyễn Văn T; Nguyễn Vũ L; Nguyễn Thanh Tuấn E, Lê Văn Đ, Nguyễn Văn P và Nguyễn Thanh N tham gia đánh bạc với số tiền dưới 5.000.000 đồng, do chưa bị xử lý hành chính, chưa bị kết án về hành vi đánh bạc và tổ chức đánh bạc, Công an huyện Lai Vung đã có Quyết định xử phạt hành chính các đối tượng này về hành vi nêu trên, nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Lê Văn S đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo nộp tờ tường trình có xác nhận chính quyền địa phương nội dung gia đình bị cáo có hoàn cảnh là vợ mới chết, gia đình đơn chiếc đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Kiểm sát viên đề nghị giải quyết nội dung vụ án này là đúng theo quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử thống nhất quan điểm của Kiểm sát viên. Tuy nhiên Kiểm sát viên có nhận định bị cáo hoàn cảnh gia đình khó khăn mà không đề nghị tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê Văn Sang là chưa đúng với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử không đồng ý với quan điểm này.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn T vắng mặt tại phiên tòa, nhưng qua các lời khai có trong hồ sơ vụ án Nguyễn Văn T trình bày Ngày 16/12/2018, ông có tham gia đánh bạc với hình thức lắc tài xủi tại tại bãi đất trống của ông Nguyễn Văn H, ông làm cái dùm Nguyễn Thanh Tuấn E khoảng 5-6 ván, có Lê Văn S, Nguyễn Thanh Tuấn E, Lê Văn Đ, Nguyễn Văn P, Nguyễn Thanh N là những người tham gia đặt cược, sau đó ông nghỉ đi về thì Công an bắt quả tang và đã bị xử phạt vi phạm hành chính.
Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 chén nhỏ màu trắng, bằng bê ka; 03 hột xí ngầu; 01 cóc nhỏ bằng nhựa, màu đỏ; 01 miếng giấy cứng, trên giấy cứng có ghi chữ “T, X” do đây là công cụ dùng vào việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: tiền thu tại chiếu bạc là 100.000 đồng.
- Bị cáo Lê Văn S tự nguyện nộp 01 điện thoại di động màu đỏ-đen, có ghi chữ NOKIA, số IMEL 1: 352357/06/416430/2 và 20.000 đồng để sung Ngân sách Nhà nước do liên quan đến việc phạm tội của bị cáo.
(Các tài sản trên hiện do Chi cục thi hành án dân sự huyện Lai Vung đang quản lý).
Về trách nhiệm dân sự: Không có, nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bị cáo Lê Văn S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; Điều 36; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lê Văn S phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Lê Văn S 02 (hai) năm cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tại không giam giữ được tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Lê Văn S cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện LV, tỉnh Đồng Tháp nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục. Trường hợp người kết án thay đổi nơi cư trú thì Ủy ban nhân dân xã P, huyện LV, tỉnh Đồng Tháp có trách nhiệm thông báo cho cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp để làm thủ tịch chuyển giao hồ sơ thi hành án của người đó để nơi đây làm thủ tục cần thiết cho cơ quan, tổ chức nơi người đó chuyển đến tiếp tục giám sát, giáo dục theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
Phạt bổ sung bị cáo Lê Văn S 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).
2. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 chén nhỏ màu trắng, bằng bê ka; 03 hột xí ngầu; 01 cóc nhỏ bằng nhựa, màu đỏ; 01 miếng giấy cứng, trên giấy cứng có ghi chữ “T, X” và số thứ tự từ 01 đến 06.
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền thu tại chiếu bạc là 100.000 đồng.
- Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động màu đỏ-đen, có ghi chữ NOKIA, số IMEL 1: 352357/06/416430/2 và 20.000 đồng.
(Vật chứng, tiền và các tài sản trên hiện do Chi cục thi hành án dân sự huyện Lai Vung đang quản lý).
3. Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lê Văn S phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo được kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 30/10/2019. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh ĐT; - VKSND tỉnh ĐT; - VKSND H.Lai Vung; - CCTHA-DS H.Lai Vung; - Cơ quan điều tra H. Lai Vung; - Cơ quan THAHS H. Lai Vung; - Sở tư pháp; - Bị cáo, các đương sự; - Lưu HS, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Cẩm Nhung |