vanban.org

Bản án 41/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 25/12/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về điều luật áp dụng: Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; khoản 1 Điều 65; điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 3; khoản 1 Điều 6; khoản 1 Điều 21; điểm a…

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lê Thị H và Võ Huy B phạm tội “Đánh bạc”. Về hình phạt chính: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "HSST - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về điều luật áp dụng: Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; khoản 1 Điều 65; điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 3; khoản 1 Điều 6; khoản 1 Điều 21; điểm a…
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAN LỘC, TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2019/HS-ST
Ngày 25-11-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAN LỘC, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Trung Thông.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Hoằng và bà Trần Thị Tứ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Bính - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Can Lộc.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Can Lộc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lê Na - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Can Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 38/2019/TLST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2019/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Lê Thị H; tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 20/10/1980; Nơi sinh: Xã P, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Thôn T, xã P, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Xuân L (đã chết) và bà Nguyễn Thị Q; chồng Đặng Danh D và 04 con lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/9/2019 đến ngày 24/9/2019 được thay thế biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Võ Huy B; tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 08/8/1977; Nơi sinh: Xã T, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Huy N và bà Thái Thị Đ; vợ Võ Thị H và 03 con lớn nhất sinh năm 1998 và nhỏ nhất sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/9/2019 đến ngày 24/9/2019 được thay thế biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Phạm L; sinh năm: 1973; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt.

+ Anh Phạm Khắc H; sinh năm: 1980; địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt.

+ Chị Võ Thị H; sinh năm: 1979; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt.

+ Anh Đặng Danh D; sinh năm: 1976; địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 22/9/2019, Võ Huy B nhận ghi lô đề của những người khách qua đường đến đánh trực tiếp ở nhà mình tại thôn T, xã T, huyện Can Lộc. Trong số những người đến ghi trực tiếp với B chỉ xác định được Phạm L sinh năm 1973 trú cùng xã đánh 50 điểm lô (20.000 đồng/1 điểm) tương ứng với số tiền 1.000.000 đồng. Còn những người khác không xác định được nhân thân lai lịch. Sau đó, B sử dụng máy điện thoại di động Samsung màu trắng có lắp sim thuê bao 0398.969.589 sao chép các số lô, số đề của khách và nhắn tin chuyển đến số 0368.000.324 của Lê Thị H ở thôn T, xã P, huyện L để hưởng tiền hoa hồng. B đã gửi cho H các tin nhắn với nội dung: Đề đít 9 x 280 nghìn; 58, 59, 47, 48 x 40 nghìn; 08, 80, 83, 82, 60, 63, 62, 91, 92, 93, 50, 52, 53, 51 x 15 nghìn; 40, 42, 42, 43, 12, 13, 10 x 10 nghìn; Kép 250 nghìn. (Tin nhắn 1). Đề 72, 56 x 480 nghìn; 57x 40 nghìn; xiên 57, 91 x 30 nghìn (Tin nhắn 2). Đề 516, 161, 08 x 10 nghìn; 62 x 280 nghìn; 52 x 480 nghìn; 42 x 180 nghìn; (Tin nhắn 3). Đề 86, 82 x 490 nghìn; Lô 71, 99 x 40 điểm, 24 x 90 điểm; 27, 72 x 40 điểm; 84, 12 x 10 điểm (Tin nhắn 4). Đề 41, 42, 52, 53, 17 x 490 nghìn (Tin nhắn 5). Lô 41, 42, 52, 53, 17 x 50 điểm (Tin nhắn 6). Đề 89, 98, 55 x 15 nghìn (Tin nhắn 7). Đề đít 9 x 2.800 nghìn (tin nhắn này thay nội dung đề đít 9 x 280n trong tin nhắn 1) nhưng H đã trả lời chỉ nhận ghi 2 triệu.

Như vậy, B đã gửi cho H 520 điểm lô (20.000 đồng/1 điểm) tương ứng với số tiền 10.400.000 đồng và tiền đề và xiên là 8.165.000 đồng. Căn cứ vào kết quả mở thưởng xổ số miền B thì tối hôm đó B đã trúng 50 điểm lô (70.000 đồng/1 điểm) tương ứng với số tiền 3.500.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc giữa H và B là 22.065.000 đồng (Hai mươi hai triệu không trăm sáu mươi lăm ngàn đồng). Đến ngày 23/9/2019, sợ bị phát hiện nên B đã đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Can Lộc tự thú về hành vi phạm tội của mình.

Tại cơ quan điều tra, H khai trong ngày 22/9/2019 ngoài nhận bảng lô của B, H còn nhận ghi lô đề của một số người khác nữa, cụ thể: Nhận ghi lô đề bằng tin nhắn Zalo với người có tên lưu trong Zalo là TK (không biết tên tuổi và địa chỉ cụ thể ở đâu) với tổng cộng 1736 điểm lô và 7.320.000 đồng tiền đề. Nhận tin nhắn từ số điện thoại 0974.710.894 của người có tên là Phương ở huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh nhưng không biết cụ thể ở xã nào) với 1051 điểm lô và 11.240.000 đồng tiền đề. Nhận tin nhắn từ số 0837.435.876 của người có tên là Hùng ở TP Hà Tĩnh nhưng không biết địa chỉ cụ thể) với 1173 điểm lô và 4.699.000 đồng tiền đề. Quá trình điều tra cũng chưa xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể của những người này. Ngoài ra, H nhận tin nhắn ghi lô đề từ số 0968.822.499 của Phạm Khắc H trú tại thôn T, xã P, huyện L với nội dung đề 42 x 100.000 đồng.

* Vật chứng vụ án:

Vật chứng Cơ quan CSĐT Công an huyện Can Lộc đã thu giữ và trả lại cho chủ sở hữu: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đồng có lắp sim thuê bao 0968.822.499, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu trắng xám có lắp sim thuê bao 0973.305.089 và số 0388.966.179, 01 quyển vở ghi chép.

Vật chứng đã chuyển sang Chi cục thi hành án dân sự: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu trắng có gắn thẻ sim 0398.969.589; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo F11 pro màu đen, bên trong có gắn thẻ sim 0368.000.324 và 0965.584.756;

Ba tờ giấy A4 trên mặt các trang giấy ghi chép các con số chuyển theo hồ sơ vụ án.

Với hành vi trên, Cáo trạng số 40/CT –VKSCL-HS ngày 31/10/2019, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Can Lộc đã truy tố các bị cáo Lê Thị H và Võ Huy B về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Ngày 25/11/2019 bị cáo Võ Huy B đã tự nguyện nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Can Lộc số tiền 10.000.000 đồng nộp trước tiền thi hành án.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Can Lộc vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Lê Thị H và Võ Huy B phạm tội “Đánh bạc”; đề nghị áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 65; điểm a khoản 1 Điều 47; Điều 58 của Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 3; khoản 1 Điều 6; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 và mục A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án, ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Ngoài ra bị cáo Võ Huy B áp dụng thêm điểm r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: Lê Thị H từ 16 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 32 đến 36 tháng, phạt tiền 10 đến 15 triệu đồng; Võ Huy B từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng, phạt tiền 10 đến 15 triệu đồng.

Các bị cáo nói lời sau cùng thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không có tranh luận gì với luận tội của đại diện Viện kiểm sát và xin Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo mức án thấp nhất và cho các bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tính hợp pháp của các hành vi và quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Can Lộc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Can Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo, người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, với nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và các chứng cứ khác có tại hồ sơ, như vậy đủ cơ sở kết luận: Ngày 22/9/2019 Lê Thị H và Võ Huy B đã thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức ghi lô đề trái phép thông qua tin nhắn điện thoại với số tiền 22.065.000 đồng (Hai mươi hai triệu không trăm sáu mươi lăm ngàn đồng). Ngoài ra H còn đánh bạc với Phạm Khắc H số tiền 100.000 đồng. Như vậy, số tiền đánh bạc của H là 22.165.000 đồng (Hai mươi hai triệu một trăm sáu mươi lăm ngàn đồng).

Hành vi đánh bạc dưới hình thức ghi lô đề trái phép của bị cáo Võ Huy B có trị giá 22.065.000 đồng và bị cáo Lê Thị H có trị giá 22.165.000 đồng đã phạm vào tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự. Do đó việc truy tố, xét xử các bị cáo về tội danh, điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan sai.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý công cộng được pháp luật bảo vệ, đồng thời làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, nên cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung đối với xã hội.

Về đánh giá vai trò vị trí của các bị cáo trong vụ án: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn trong đó Lê Thị H nhận ghi lô đề cho Võ Huy B với số tiền 22.065.000 đồng và Phạm Khắc H 100.000 đồng tổng 22.165.000 đồng. Võ Huy B là người ghi lô đề cho những người khác với số tiền 22.065.000 đồng. Vì vậy vai trò của bị cáo Lê Thị H cao hơn bị cáo Võ Huy B.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Các bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo Võ Huy B được áp dụng tình tiết tự thú và mẹ là bà Thái Thị Điu được tặng Kỷ niệm chương thanh niên xung phong quy định tại điểm r khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Lê Thị H có mẹ là bà Nguyễn Thị Quang được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Trên cơ sở xem xét, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, vai trò vị trí của các bị cáo trong vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy rằng:

Đối với bị cáo Lê Thị H là người nhận ghi lô đề của Võ Huy B và những người khác, trong khi B chỉ nhận ghi lô đề của những người đến đánh vì vậy mức hình phạt của H phải cao hơn B.

Tuy nhiên các bị cáo đều phạm tội ít nghiêm trọng, có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo Lê Thị H đang nuôi con nhỏ chưa đủ 12 tháng tuổi (sinh ngày 15/01/2019). Các bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho các bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự 2015 không cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà cho các bị cáo được hưởng án treo cũng đủ nghiêm, tạo điều kiện cho các bị cáo sửa chữa lỗi lầm, trở thành công dân có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng” do đó, các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Xét thấy việc áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả tính răn đe giáo dục các bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo tính theo vị trí, vai trò của từng bị cáo trong vụ án.

Về biện pháp tư pháp: Số tiền 22.165.000 đồng là công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước. Tuy nhiên trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều khai nhận mới chỉ chuyển tin nhắn nhưng chưa chuyển tiền cho nhau, vì vậy cần truy thu số tiền của các bị cáo, cụ thể: Truy thu của bị cáo Lê Thị H 3.600.00 đồng và Võ Huy B 18.565.000 đồng.

Căn cứ vào lời khai của Lê Thị H người có tên Zalo là Tùng Khánh, người tên Phương ở huyện Nghi Xuân và người tên Hùng ở thành phố Hà Tĩnh là những người đã gửi tin nhắn đánh bạc với Lê Thị H. Kiến nghị Cơ quan CSĐT Công an huyện Can Lộc tiếp tục điều tra xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với Phạm L đã có hành vi tham gia đánh bạc bằng hình thức ghi lô đề với Võ Huy B; Phạm Khắc H có hành vi đánh bạc với Lê Thị H nhưng số tiền chưa đủ yếu tố để truy cứu trách nhiệm hình sự. Cơ quan Điều tra Công an huyện Can Lộc đã xử phạt hành chính đối với những người này là đúng quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu trắng có gắn thẻ sim 0398.969.589; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo F11 pro màu đen, bên trong có gắn thẻ sim 0368.000.324 và 0965.584.756 là công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Ba tờ giấy A4 trên mặt các trang giấy ghi chép các con số tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đồng có lắp sim thuê bao 0968.822.499, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu trắng xám có lắp sim thuê bao 0973.305.089 và số 0388.966.179, 01 quyển vở ghi chép không liên quan đến hành vi phạm tội, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí và quyền kháng cáo:

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về điều luật áp dụng: Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; khoản 1 Điều 65; điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 3; khoản 1 Điều 6; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 và mục A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án, ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Ngoài ra bị cáo Võ Huy B áp dụng thêm điểm r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

2. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lê Thị H và Võ Huy B phạm tội “Đánh bạc”.

3. Về hình phạt chính:

Xử phạt Lê Thị H 16 (Mười sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 32 (Ba mươi hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt Võ Huy B 12 (Mười hai) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Các bị cáo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

Giao bị cáo Lê Thị H cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh; giao bị cáo Võ Huy B cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

4. Về hình phạt bổ sung: Phạt tiền 11.000.000 đồng đối với bị cáo Lê Thị H để sung công quỹ nhà nước.

Phạt tiền 10.000.000 đồng đối với bị cáo Võ Huy B để sung công quỹ nhà nước nhưng được khấu trừ số tiền 10.000.000 đồng bị cáo đã nộp tại Biên lai thu tiền số 0001461, ngày 25/11/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Can Lộc, tiền phạt bổ sung bị cáo Võ Huy B đã nộp đủ.

5. Về biện pháp tư pháp: Buộc bị cáo Lê Thị H nộp số tiền 3.600.00 đồng (Ba triệu sáu trăm ngàn đồng), bị cáo Võ Huy B nộp số tiền 18.565.000 (Mười tám triệu năm trăm sáu mươi lăm ngàn đồng) để tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

6. Về vật chứng: Lưu giữ 03 tờ giấy A4 trên mặt các trang giấy ghi chép các con số trong hồ sơ vụ án.

Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu trắng có gắn thẻ sim 0398.969.589; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo F11 pro màu đen, bên trong có gắn thẻ sim 0368.000.324 và 0965.584.756.

Tình trạng các vật chứng trên có tại Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 31/10/2019 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Can Lộc với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Can Lộc.

7. Về án phí: Các bị cáo Lê Thị H và Võ Huy B mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

8. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ