- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Ngọc D và anh Huỳnh Thanh B.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 171 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐỒNG THÁP Bản án số: 41/2019/ HNGĐ – ST Ngày: 28/10/2019 V/v “ Tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn ” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Trinh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Diệu Hiền
Ông Nguyễn Quốc Trí
Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Anh Thư - Cán bộ TAND huyện Thanh Bình.
Viện Kiểm Sát nhân dân huyện Thanh Bình tham gia phiên tòa: Không tham gia.
Trong ngày 28 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số 245/2019/ TLST – HNGĐ ngày 18/8/2019 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2019/QĐXX- ST ngày 15 tháng 10 năm 2019, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Nguyễn Thị Ngọc D, sinh năm: 1974
2. Bị đơn: Huỳnh Thanh B, sinh năm: 1974
Cùng địa chỉ: ấp B, xã P, huyện A, tỉnh Đồng Tháp.
(Anh B có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 03/8/2019, Bản khai, Biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, biên bản hòa giải ngày 16/9/2019 và trong quá trình xét xử nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc D trình bày: Chị D với anh B tự tìm hiểu và chung sống với nhau vào năm 1990, không có đăng ký kết hôn và vợ chồng chung sống với nhau là tự nguyện, không bị cưỡng ép hay lừa dối. Trong thời gian chung sống tình cảm vợ chồng hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẩn do bất đồng quan điểm trong việc làm kinh tế gia đình, thường xuyên cự cải nhau dẫn đến ly thân vào tháng 01/2019. Từ khi ly thân chị D, anh B có gặp nhau để hàn gắn tình cảm sống chung với nhau nhưng không đoàn tụ chung sống lại với nhau được. Nay chị D yêu cầu được chấm dứt mối quan hệ vợ chồng với anh B.
Đối với con chung: Chị D, anh B chung sống với nhau có 02 người con, họ và tên Huỳnh Thanh T, sinh ngày 16/4/1993, Huỳnh Tuấn E, sinh ngày 28/2/1997, cả hai người con đã trưởng thành, có cuộc sống riêng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về chia tài sản: Tự thỏa thuận, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, về nợ chung: vợ chồng không nợ ai và cũng không ai nợ lại nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản khai ngày 08/8/2019, biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, biên bản hòa giải ngày 16/9/2019 anh Huỳnh Thanh B trình bày: Về hôn nhân thống nhất lời trình bày của chị D, anh B với chị D tự tìm hiểu và chung sống với nhau vào năm 1990, không có đăng ký kết hôn và vợ chồng chung sống với nhau là tự nguyện, không bị cưỡng ép hay lừa dối. Trong thời gian chung sống tình cảm vợ chồng hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẩn do bất đồng quan điểm trong việc làm kinh tế gia đình, thường xuyên cự cải nhau dẫn đến ly thâm vào tháng 01/2019. Từ khi ly thân vợ chồng có gặp nhau để hàn gắn tình cảm để sống chung với nhau nhưng không đoàn tụ chung sống lại với nhau được. Nay anh B thống nhất yêu cầu được chấm dứt mối quan hệ vợ chồng với chị D.
Đối với con chung: Chị D, anh B chung sống với nhau có 02 người con, họ và tên Huỳnh Thanh T, sinh ngày 16/4/1993, Huỳnh Tuấn E, sinh ngày 28/2/1997, cả hai người con đã trưởng thành, có cuộc sống riêng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về chia tài sản: Tự thỏa thuận, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, về nợ chung: vợ chồng không nợ ai và cũng không ai nợ lại nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về tố tụng: Theo yêu cầu khởi kiện của chị D và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật đang tranh chấp là “V/v tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Huỳnh Thanh B cư trú tại ấp B, xã P, huyện A, tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Ngày 15 tháng10 năm 2019Tóa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2019/QĐXXST – HNGĐ, vụ án được xét xử vào lúc 13 giờ 30 ngày 28 tháng 10 năm 2019, anh B có đơn xin xét xử vắng mặt có lý do. Căn cứ vào Điều 28; Điều 171; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử đã tiến hành xét xử vụ án “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn,” và xét xử vắng mặt bị đơn anh Huỳnh Thanh B là phù hợp.
. Về nội dung vụ án:
. Về hôn nhân: Giữa chị D, anh B chung sống với nhau vào năm 1990, không có đăng ký kết hôn. Anh, chị sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẩn về làm kinh tế gia đình và đến tháng 01/2019 ly thân với nhau. Từ khi ly thân đến nay anh, chị có gặp nhau để hàn gắn sống chung lại với nhau nhưng không đoàn tụ chung sống cùng nhau được. Hội đồng xét xử xét thấy quan hệ hôn nhân phải xây dựng trên cơ sở tự nguyện của cả hai người, phải có sự tin tưởng, quan tâm đến nhau thì mới mang lại hạnh phúc. Vì vậy cho thấy mâu thuẩn giữa chị D với anh B làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thề kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị D, anh B chung sống với nhau từ năm 1990, có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật nhưng không đăng ký kết hôn là vi phạm và không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ chồng nên không được pháp luật thừa nhận là vợ chồng. Do đó không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Ngọc D với anh Huỳnh Thanh B là phù hợp với khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14; khoản 2 Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Khoản 1 Điều 14 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
1. Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này.
. Về nuôi con chung: Chị D với anh B chung sống với nhau có 02 người con, họ và tên Huỳnh Thanh T, sinh ngày 16/4/1993, Huỳnh Tuấn E, sinh ngày 28/2/1997, cả hai người con đã trưởng thành, có cuộc sống riêng nên chị D, anh B không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy Tòa án không xem xét giải quyết.
Về chia tài sản: Tự thỏa thuận; về nợ chung: không nợ ai, cũng không ai nợ lại, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Chị D phải chịu án phí hôn nhân và gia đình.
Anh B không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình
Chị D, anh B có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên,
Áp dụng Điều 28 điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 171, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Khoản 1 Điều 9; Khoản 1 Điều 14; khoản 2 Điều 81; khoản 3 Điều 82; khoản 2 Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Áp dụng Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên xử:
1.Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Ngọc D và anh Huỳnh Thanh B.
2.Về nuôi con chung: Chị D với anh B chung sống với nhau có với nhau có 02 người con, họ và tên Huỳnh Thanh T, sinh ngày 16/4/1993, Huỳnh Tuấn E, sinh ngày 28/2/1997, cả hai con chung đã trưởng thành, có cuộc sống riêng, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy Tòa án không xem xét giải quyết.
3. Về chia tài sản: Tự thỏa thuận; Về nợ chung: Anh, chị không nợ ai, không ai nợ lại, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
4. Án phí dân sự sơ thẩm:
Chị D phải nộp 300.000đ án phí hôn nhân gia đình nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai số BH/2018/ 0003781 ngày 14 tháng 6 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình.
Anh B không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong hạn 15 ngày kể nhận được bản án hoặc kể từ ngày tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7 ,7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| - Nơi nhận: - Tòa án tỉnh ĐT - VKS huyện TB - THADS Huyện TB - Đương sự - Lưu Hồ sơ & Văn Phòng - UBND xã P. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm Phán – chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Thị Kim Trinh |