- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Thành T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Ngô Thành T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật Phí và lệ phí; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM SÁCH TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2018/HSST Ngày: 31-8-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM SÁCH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Kim Giang;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Quy và ông Đặng Hữu Luật
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Bách - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 31/8/2018, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 37/2018/HSST ngày 30/7/2018, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2018/QĐXXST-HS ngày 17/8/2018 đối với bị cáo:
Ngô Thành T, sinh năm 1991 tại xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương;
Nơi cư trú: thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn M và bà Phạm Thị Đ; có vợ Đồng Thị L (đã ly hôn); có 01 con sinh năm 2013; Tiền án: 01 tiền án, tại Bản án số 02b/2016/HSST ngày 26/01/2016 của Tòa án nhân dân huyện Kim Thành xử phạt T 15 tháng tù về tội "Tổ chức đánh bạc"; Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 19/01/2017; tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/7/2018, đến ngày 06/7/2018 chuyển tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương; có mặt.
* Người làm chứng:
1. Anh Nguyễn Đăng L, sinh năm 1971;
Trú tại: Thôn B, xã A, huyện N, tỉnh Hải Dương; vắng mặt.
2. Chị Võ Thị Mộng T1, sinh năm 1987;
Trú tại: khu T, phường 27, quận B, thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 04/7/2018, Ngô Thành T đi taxi từ nhà sang huyện T, tỉnh Hải Dương mua ma túy đá về sử dụng. Khi đi đến xã T, huyện T, T gặp một người đàn ông giới thiệu tên A. Qua câu chuyện T biết A có ma túy bán. T đặt vấn đề mua 300.000đ ma túy đá, A đồng ý. Mua xong, T thuê xe taxi sang huyện N chơi. Khi đi đến thị trấn N, T xuống xe vào một quán nước ngồi và bắt chuyện làm quen với chị Võ Thị Mộng T1, sinh năm 1987, trú tại: khu T, phường 27, quận B, thành phố Hồ Chí Minh. Trong khi ngồi nói chuyện, T rủ chị T1 vào nhà nghỉ để tâm sự, chị T1 đồng ý. Sau đó, cả hai thuê taxi đi tìm nhà nghỉ. Khi đi đến nhà nghỉ Đ ở thôn B, xã A, huyện N, T và T1 xuống xe vào thuê phòng 302 của nhà nghỉ. Hồi 14 giờ 20 phút cùng ngày, khi T và T1 đang ở trong phòng thì lực lượng Công an huyện Nam Sách kiểm tra và phát hiện trên tay trái T giấu 01 gói nilon kích thước (2,5x2)cm, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng. T khai nhận là ma túy đá, cất giấu để sử dụng. Lực lượng Công an huyện đã tiến hành lập biên bản niêm phong gói ma túy trên.
Tại kết luận giám định số 396/KLGĐ-DD6 ngày 04/7/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Tinh thể màu trắng gửi đi giám định là ma túy, có khối lượng 0,4391 gam, là loại Methamphetamine. Hoàn lại 0,2890 gam tinh thể cùng vỏ bao bì được niêm phong lại trong bì thư theo dấu niêm phong số 396/2018/PC54.
Bản Cáo trạng số 37/CT-VKS-NS ngày 27/7/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương truy tố Ngô Thành T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách thực hành quyền công tố, trình bày luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Ngô Thành T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Ngô Thành T từ 15 đến 18 tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 04/7/2018; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì có dấu niêm phong số 396/2018/PC54 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng, bên trong có 0,2890 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Ngô Thành T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Ngô Thành T thành khẩn khai nhận như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nam Sách, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo phù hợp nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 14 giờ 20 phút ngày 04/7/2018, tại phòng 302 nhà nghỉ Đ ở thôn B, xã A, huyện N, tỉnh Hải Dương, Ngô Thành T có hành vi cất giấu trái phép 01 gói ma túy đá Methamphetamine có khối lượng 0,4391gam, mục đích để bản thân sử dụng thì bị lực lượng Công an huyện Nam Sách phát hiện, bắt quả tang.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự và ảnh hưởng xấu đến đời sống xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc cất giữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Xem xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy rằng: Bị cáo có nhân thân xấu, ngày 26/01/2016, bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện Kim Thành xử phạt 15 tháng tù về tội "Tổ chức đánh bạc". Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 19/01/2017, bị cáo chưa được xóa án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự "tái phạm" quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải có hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe và giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự bị cáo có thể chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo T không có nghề nghiệp, sống phụ thuộc vào gia đình, không có tài sản, do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp: Quá trình điều tra, công an có thu giữ của bị cáo T 0,4391 gam Methamphetamine. Sau khi giám định, cơ quan giám định hoàn lại 0,2890 gam cùng vỏ bao bì được niêm phong lại trong bì thư theo dấu niêm phong số 396/2018/PC54. Methamphetamine là chất cấm tàng trữ, lưu hành; vỏ bao bì niêm phong, bì thư hiện không có giá trị sử dụng do vậy cần tịch thu, tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với người lái taxi chở T đi mua ma túy, chở T về N và người lái xe taxi chở T đến nhà nghỉ Đ, theo lời khai của T những người này không biết việc T đi mua ma túy và giấu ma túy trong người, T không biết tên, tuổi, địa chỉ của lái xe, biển số xe nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho T, T trình bày tên An. Quá trình điều tra, không xác định được cụ thể họ tên, địa chỉ của người đàn ông này. Do vậy, cơ quan điều tra tách ra, xác minh làm rõ xử lý sau là phù hợp.
Đối với chị Võ Thị Mộng T1 là người đi cùng T vào nhà nghỉ, chị T1 không biết T tàng trữ ma túy nên không đặt ra việc xử lý đối với chị T1.
Đối với chủ nhà nghỉ Đ, khi cho T thuê phòng đã yêu cầu xuất trình giấy tờ tùy thân, khi thấy T và T1 có dấu hiệu nghi vấn vi phạm pháp luật, đã cung cấp thông tin cho cơ quan Công an nên không đặt ra việc xử lý.
Về án phí: Bị cáo có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Ngô Thành T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Ngô Thành T 16 (Mười sáu) tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 04/7/2018 và tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm thi hành án.
2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
3. Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 396/2018/PC54 của phòng PC54 - Công an thành phố Hải Phòng, bên trong có chứa 0,2890g Methamphetamine hoàn lại sau giám định.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 31/7/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Sách).
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Ngô Thành T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Ngô Thành T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện Nam Sách; - VKSND tỉnh Hải Dương; - Trại tạm giam công an tỉnh Hải Dương; - Cơ quan điều tra Công an huyện Nam Sách; - Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ Công an huyện Nam Sách; - Sở Tư pháp tỉnh HD; - Chi cục THA huyện Nam Sách; - Lưu hồ sơ; - Lưu trữ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Kim Giang |